LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CÁC DÂN TỘC NGƯỜI Ở VIỆT NAM
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CÁC
DÂN TỘC NGƯỜI Ở VIỆT NAM
Với sự phát triển của nền khoa học ngày nay, trong thành tựu về khảo cổ học ở khu vực Đông Nam Á, đã phát hiện ở một số nước Inđônêxia, Thái Lan, Môn ma, Malaixia và Việt Nam người vượn ở Bình Gia, các công cụ bằng đá ớ Núi Đọ (Thanh Hóa), Xuân Lộc (Đồng Nai) có cách đây vào khoảng hơn 30 vạn năm trước. Điều đó cho thấy rằng ngay từ buổi đầu của thời đại đồ đá, đã có loài người cư trú trên lãnh thổ Việt Nam, với những công cụ ghè đẽo thô sơ chế tạo, bằng những mảnh tước, các công cụ chặt rìu tay, nạo, người nguyên thủy khi xưa đã sử dụng để chặt cây, đốn gỗ, chế tạo các vật dụng phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cuộc sống. Xã hội buổi sơ khai, cùng với sự phát triển tiến hóa, con người đã trải qua một thời gian dài hàng chục vạn năm cần cù lao động và sáng tạo.
Vào thời kỳ đồ dá cũ ở Việt Nam cũng phát hiện thấy xương tăng của người Hô mô sa phên tại hang Thẩm òm (Hà Tĩnh). Năm 1958 tại Liễu Giang, Quảng Tây (Trung Quốc) nơi tiếp giáp gần với miền Bắc Việt Nam cũng tìm thấy xương sọ đàn ông có nhiều đặc điểm giống người nguyên thủy Môngôlôít, khu vực Đông Nam Á 1à trung tâm có giống người Hô mô sa phên xuất hiện tương đối sớm trên trái đất.
Trong thời kỳ đồ đá giữa đến sơ kỳ đồ đá mới ở Việt Nam đã có văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn nổi tiếng, của những tập đoàn người sống ở ven biển. Người Hòa Bình cách ngày nay hơn một vạn năm đã phát minh ra nghề trồng trọt nguyên thủy, người Bắc Sơn cách ngày nay dưới một vạn năm đã biết mài công cụ phát minh ra làm đồ gốm. Một số công đoạn đã đạt được trong chế tác công cụ lao động của thời kỳ đồ đá mới cũng có sự tiến bộ nhất định, đã tạo ra những khả năng mới cho con người, phát triển ngày càng hoàn thiện. Từ đời sống kinh tế dựa vào thiên nhiên theo bản năng tìm kiếm, cướp đoạt, họ chuyển sang giai đoạn sản xuất, tự cung tự cấp, song song phát triển với việc hái lượm và săn bắt thú rừng, là nguồn cung cấp thức ăn dồi đào. Các tập đoàn người bao gồm các dân tộc cố định, lâu đài theo tổ chức công xã thị tộc, giữa các tập đoàn với nhau đã chịu ảnh hưởng về giao lưu các mặt hoạt động kinh tế xã hội, của xã hội người nguyên thủy ở Việt Nam.
Đồng thời đem so sánh xác định niên đại để đảnh giá di cốt của chủ nhân văn hóa Hòa Bình và văn hóa Bắc Sơn của Việt Nam, đối chiếu với di cốt tìm thấy ở Lào, Inđônêxia và trên bán đảo Dông Dương đã tồn tại nhiều loại hình nhân chủng hình thành ở nhánh phía đông của đại chủng Nêgrôôx - traloít. Ở vào thời kỳ này cũng xuất hiện người Inđônêdiêng mang nhiều đặc điểm Môngôlôít phương Nam thuộc đại chủng Môngôlôít, ở vùng ven biển và sông suối, nghề đánh bắt cá được phát triển nhanh chóng. Làm nông nghiệp ở giai đoạn này dã tiến tới dùng cuốc, trâu, bò, lợn, dê, gà vịt, ngan, ngỗng những vật nuôi được con người thuần đường, nhằm đáp ứng nhu cầu về thực phẩm ngày càng tăng của con người. Cùng với sự trưởng thành nhanh chóng của tổ chức xã hội con người, tiến tới hoàn thiện hơn, trên nhiều địa bàn cư trú mở rộng, có nhiều nhà ở dân cư đông quần tụ, thành những chạ (làng) tiếng Việt cổ.
Trong giai đoạn lịch sử đang trong quá trình phát triển và hình thành ở thời kỳ đó, có nhiều bộ lạc sinh sống, cư trú trên đất nước Việt Nam, về nhân chủng đại diện cho các giống người (Mêlanêdi Inđônêđi, Nêgritô Oxtralôít, Môngôlôít) với sự hỗn hợp về nhân chủng có nhiều giống người với nhau, trên cơ sở chủ nhân của nhóm người Indônêdiêng xen lẫn với nhân chủng Nam Á của đại chủng Môngôlôít hợp thành đa số.
Có các bộ lạc ở vào thời kỳ đồ đá mới, ở khu vực Đông Nam Á (bao gồm một phần Nam Trung Quốc) gọi là Việt đã được nhắc đến trong nhiều thư tịch cổ của Trung Quốc. Việt là tên gọi chung chỉ nhiều bộ lạc nói ngôn ngữ khác nhau, nên mới gọi là bách Việt bao gồm người Inđônêxia, Việt, Tày, Khơ Me cổ và những bộ lạc ở miền Tây Nam Trung Quốc thuộc ngữ hệ Tăng – Miên. Các bộ lạc đó sống bên nhau, người Việt cùng với con cháu của họ ở Đông Dương và trên quân đảo Inđônêxia, là những chủ nhân đã sáng tạo ra nghề trồng trọt rất sớm, từ cuối thời đại đồ đá.
Đến giai đoạn chuyển tiếp sang thời đại đồ đá mới cách ngày nay khoảng từ 3000-4000 năm trước Công nguyên, đến thời đại đồ đồng đã phát triển tới một đỉnh cao. Về thời đại đồng thau, di tích tìm thấy ở miền trung du, đồng bằng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ như Phùng Nguyên (thời kỳ đầu) Đồng đậu (thời kỳ giữa) Cò Mun (thời kỳ phát triển) Đông Sơn sơ kỳ thời đại đồ sắt) trống đồng, lưỡi câu, liềm, rìu, mũi tên được ra dời trong thời kỳ này. Chủ nhân của nền văn hóa thời đại đồ đồng thau là người Việt, Lạc Việt, cùng với Âu Lạc và các thành phần dân tộc khác ở Việt Nam. Thời đại của nhà nước Văn Lang do các vua Hùng xây dựng, thời kỳ này đã xuất hiện trên lưu vực sông Hồng các bộ lạc thời Phùng Nguyên với người Lạc Việt nói một phương ngữ của ngữ hệ Nam Á. Song nó lại chịu ảnh hưởng rất lớn của hai ngữ hệ nguyên Thái và nguyên Malayô - Pôlinêdi bao gồm 15 bộ Lạc người Lạc Việt ở miền trung du và đồng bằng có nhiều bộ lạc Tây Âu hay Âu Việt (người Tày cổ) sống ở miền trung du và miền núi Việt Bắc hiện nay và ở nhiều nơi khác là dân cư đã biết sử dụng đồ sắt sớm nhất ở Việt Nam.
Sự ra đời của nhà nước Văn Lang đầu tiên đánh dấu một thời kỳ Lịch sử lâu dài, quyết định cho việc thúc đẩy nền kinh tế văn hóa xã hội của các bộ lạc phát triển, tiến bộ không ngừng, trong suốt quá trình lịch sử của một thời gian dài, với hơn 4000 năm dựng nước, đã hình thành và kiến tạo nên các tộc người ở Việt Nam là một khối thống nhất.
Lịch sử hình thành các tộc người cũng thể hiện sự thống nhất đó. Người Tày xưa cư trú trên một phạm vi rất rộng ở nhiều tỉnh như Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh, Bắc Giang v.v. . . có truyền thuyết Pú Lương Quân, Cẩu Chùa - Cheng Vùa, kể về tổ tiên họ có mặt ở Việt Nam từ buổi bình minh của lịch sử, có một bộ phận người Tày ở vùng trung du đã hòa hợp với người Việt và Mường, thành người Việt hiện đại, còn những bộ phận người Tày cổ ở miền núi là tổ tiên của người Tày hiện nay.
Nhưng cũng có những nhóm người Tày đặc điểm sinh hoạt văn hóa khác nhau, nhưng không ảnh hưởng đến ý thức về thành phần dân tộc của họ. Một thí dụ nữa cũng cho chúng ta thấy rõ hơn người Mường, người Chút cũng là dân tộc bản địa, có chung một nguồn gốc lịch sử với người Việt. Trong buổi đầu dựng nước, các dân tộc nói trên đều nằm trong khối cộng đồng người Lạc, sau có sự phân hóa người Lạc thành những cộng đồng Việt Mường. Các dân tộc cư trú ở Việt Nam đã ra sức khai phá đất đai, ruộng nương làm các công trình thủy lợi, mở mang đường giao thông đi lại, để phục vụ cho đời sống và lợi ích của các dân tộc trên quê hương và Tổ quốc Việt Nam.
Nguyễn Hải @ 13:32 21/02/2011
Số lượt xem: 5032
Các ý kiến mới nhất