Gốc > Đất nước Việt Nam > Nếp sống văn hóa Việt > Văn hóa các Dân tộc Việt Nam >

DÂN TỘC VIỆT


DÂN TỘC VIỆT

Người Việt (Kinh) là dân tộc có dân số đông nhất ở Việt  Nam, địa bàn cư trú chủ yếu là đồng bằng châu thổ, gần các dòng sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Lam, sông Vàm Cỏ, sông Cửu Long v.v. . . Từ chiếc nôi đầu tiên  của dân tộc là đồng bằng châu thổ sông Hồng, người Việt đã  có mặt ở khắp nơi từ điểm cực bắc cao nguyên Đồng Văn, đến điểm cực nam mũi Cà Mau, trên khắp chiều dài của đất nước hợp thành một cộng đồng dân tộc, mang những sắc thái địa phương khác nhau.

Người Việt vốn có nguồn gốc là cư dân bản địa, có mặt khoảng hơn 4000 năm trước đây, bao gồm những tộc người được xếp vào cùng một loại hình chủng tộc, là một tộc thống nhất và ổn định giữa các nhân chủng giống người (Mêlanêđi, Iđônêdi, Nêgritô, Ôxtarloit, Môngôlôít). Sự tiến hóa trung gian giữa hai nhân chủng Ôxtarloit và Môngôlôít nói ngôn ngữ Việt Mường cổ đã chiếm lĩnh để sinh tụ hầu hết các địa bàn miền trung du và đồng bằng Bắc Bộ, bắc Trung Bộ, có quan hệ chặt chẽ với các cộng đồng người sống ở miền núi như Tày - Thái, Môn - Khơ Me và Malayô - Pôlônêxia cùng lao động và đấu tranh với thiên nhiên, thú dữ, sáng tạo ra các nền văn hóa Phùng Nguyên - Đông Sơn hợp thành cộng đồng cư dân là tổ tiên trực tiếp của người Việt. Với dân số hiện nay khoảng 58.900.594 người, chiếm 87,42% dân số cả nước. Người Việt có tiếng nói và ngôn ngữ riêng, tiếng Việt thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường (ngữ hệ Nam Á).

Nguồn gốc người Việt, theo truyền thuyết thì thủy tổ dân tộc Việt là Kinh Dương Vương (hiện còn có mộ tại làng An Lữ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) - Nguyên Đế Minh là cháu ba đời của vua Thần Nông, một hôm đi tuần thú phương Nam đến núi Ngũ Lĩnh (là năm ngọn núi ở biên giới của Trung Quốc ngày nay là các núi Đại Dù, Thủy An, Lâm Hạ, Quế Dương, Yết Dương thuộc phía Nam tỉnh Quảng Tây) dừng lại ở đó để lấy con gái bà Vũ Tiên, sau đó sinh được người con trai có tư chất thông minh khác thường đặt tên là Lộc Tục, lớn lên làm vua ở phương Nam xưng là Kinh Dương Vương, làm vua vào khoảng năm Nhâm Tuất (2879 trước Công nguyên).

Kinh Dương Vương lấy công chúa Thần Long là con vua Hồ Động Đình, sinh được một người con trai đặt tên là Sùng Lâm nối ngôi làm vua xưng là Lạc Long Quân, sau lấy con gái Đế Lai là Âu Cơ sinh ra một bọc có trăm trứng.

Một trăm trứng sau nở thành trăm người con, Long Quân nói với Âu Cơ ''ta là giống Rồng mình là giống Tiên, thủy hỏa khác nhau không ở cùng nhau được'', hai người chia con ra ở riêng, năm chục người theo mẹ lên núi, năm chục người theo cha xuống biển chia nhau thống trị các xứ, các vùng miền dó là thủy tổ của các nhóm Bách Việt. Người con trưởng theo mẹ lên núi Phong Sơn được tôn làm vua gọi là Hùng Vương đóng đô ở Phong Châu (Việt Trì - Phú Thọ) đặt tướng văn là Lạc Hầu, tướng võ gọi là Lạc Tướng, con trai của vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mỵ Nương, các quan nhỏ gọi là Bố Chính.

Thuở ấy, người Văn Lang phải lấy vỏ cây làm áo, bện cỏ làm chăn, lấy nhựa cây làm rượu, lấy bột cây làm cơm (bột cây dao thân to như cây cọ có bột ăn được). Thời bấy giờ, Văn Lang là bộ lạc hùng mạnh nhất đã trở thành thủ lĩnh liên minh của 15 bộ lạc.

Người Việt đã trải qua một chặng đường dài của xã hội nguyên thủy để bước sang xã hội có giai cấp từ rất sớm, đánh dấu một sự kiện lịch sử ra đời Nhà nước sơ khai đầu tiên của người Việt là quốc gia Văn Lang, với trung tâm là đỉnh tam giác châu Việt Trì, được ra đời từ nhiều thế kỷ trước Công nguyên; tiếp theo là quốc gia Âu Lạc có kinh đô là thành Cổ Loa với nhiều vòng tường thành bằng đất và hào lũy kiên cố để phòng thủ ở phía bắc huyện Đông Anh ngoại thành Hà Nội ngày nay, xuất hiện vào thế kỷ III trước Công nguyên.

Từ thế kỷ II trước Công nguyên, người Việt đã phải trực tiếp đương đầu đấu tranh với sự bành trướng xuống phía nam của người Hán. Từ năm 111 trước Công nguyên đến năm 938 sau Công nguyên, đã bị nhiều triều đại thống trị phong kiến Trung Quốc, đặt ách dô hộ đồng hóa và bóc lột, đã phải trải qua hơn 4000 năm bền bỉ kiên cường liền tục chống lại sự xâm lược của ngoại bang, người Việt mới giành lại được nền độc lập tự chủ và xây dựng chính quyền qua các triều đại từ họ Ngô, họ Đinh, họ Lê (thế kỷ X), họ Lý (thế kỷ XI, XII), họ Trần (thế kỷ XIII, XIV), họ Hồ (đầu thế kỷ XV), họ Lê (các thế kỷ XV-XVIII) họ Nguyễn Tây Sơn (cuối thế kỷ XVIII) và họ Nguyễn (thế kỷ XIX) và sang nửa đầu thế kỷ XX là các hình thái của tổ chức Nhà nước phong kiến.

Người Việt là cư dân nông nghiệp trồng lúa nước phát triển từ rất sớm, có từ trước thiên niên kỷ II trước Công nguyên. Trong đời sống của người Việt, kỹ thuật dùng cầy (với lưỡi cày bằng đồng thau) để sới đất cũng đã rất phổ biến từ nửa sau thiên niên kỷ I trước Công nguyên. Những công trình chống thiên tai lũ lụt và những công trình thủy lợi tiêu biểu và những con đê đất bao bọc khu dân cư xóm làng đồng ruộng, được đắp theo hai bờ những dòng sông lớn, cũng được xây dựng từ hàng nghìn năm trước.

Người Việt là một dân tộc chuyên trồng lúa nước và làm thủy lợi, tích lũy được nhiều kinh nghiệm, có kỹ thuật gieo trồng xen canh gối vụ, để trồng được nhiều vụ trong năm.

Ngoài ra, người Việt còn rất khéo tay về thủ công nghiệp với những nghề chính như chế biến lương thực, thực phẩm như chế biến các loại nước mắm, sản xuất ra đường mật, làm các loại bánh từ gạo, chế tạo sản xuất các đồ dùng từ đất nung, đồ gốm, đồ sành, sứ và đồ men với đỉnh cao là những đồ men thời Lý, Trần. Đan lát được coi như một nghề truyền thống, tận dụng từ các nguyên vật liệu sẵn có như tre, nứa, mây, song ..vv . Xây dựng và vật liệu xây dựng từ đất nung, đá, tre, gỗ, đồ dệt từ sợi tơ tằm và sợi bông, rèn đúc kim loại các đồ đồng, đồ sắt và các kim loại quý v.v. . .

Bữa án hàng ngày của người Việt là cơm tẻ; thực phẩm thì có mắm tương, cà và các loại rau quả xanh, được chế biến nấu, xào, luộc, rán, kho; nhân ngày giỗ, ngày Tết có xôi gạo nếp, thịt gà, lợn, rượu, gói bánh chưng v.v. . . . 

Nhà ở truyền thống của người Việt được cấu kết bằng bộ trung sườn các hàng cột đằng trước và đằng sau (gọi là cột quân) có điểm tựa chịu lực, có hai cột (cột cái) đỡ ở gian giữa và các bộ vì kèo. Tất cả cột kèo làm bằng gỗ hoặc tre, được dựng nên trên nền đất bằng hệ thống đòn tay vững chắc, lợp bằng cỏ tranh, phên nứa, lá cọ (1á gồi). Thông thường nhà làm trên nền đất (vượt thổ),  dào đất đắp nền, sau này để lại thành những cái ao cạnh nhà, với khu vườn nhỏ, cái giếng nước, tạo nên một khuôn viên khép kín của mỗi hộ gia đình.

Về trang phục truyền thống của người Việt, đàn ông đóng khố bằng vải mộc nhuộm đen hoặc nâu, cởi trần, cũng có khi mặc áo cộc tay, đàn bà mặc váy đen và đeo bộ xống yếm, mặc áo cánh nâu, tóc vấn vành khăn ngày thường. Những ngày Tết và lễ hội, đàn bà mặc áo dài tứ thân, chị em phụ nữ trẻ thì mặc áo mớ ba mớ bảy, đàn ông và người trung tuổi thì mặc áo chùng thâm (áo dài màu đen) dội khăn xếp đi guốc mộc.

Tổ chức và sinh hoạt xã hội cổ truyền của người Việt, tập trung những  điển hình là làng, một hệ thống những quan hệ hết sức đa dạng, chặt chẽ, nhưng không khép kín. Làng khi xưa là cả một hệ thống sở hữu, chiếm hữu sử dụng ruộng đất, tài sản công tư, nhiều tổ chức tôn giáo, tín ngưỡng, các sinh hoạt mang hình thức nguyên thủy, được bảo lưu với giá trị tinh thần nguyên vẹn cho đến tận ngày nay, như các đạo Phật, dạo Nho, đạo Lão được du nhập vào Việt Nam rất sớm. Ngoài ra còn kết cấu các ngõ, xóm, giáp, phe, các hội đồng tộc biểu, kỳ mục, kỳ hào, các chức dịch đẳng cấp và những thân phận (đinh tráng, tuần phu, chức sắc), các tổ chức canh phòng an ninh trật tự, phòng hộ đê điều, tương trợ giúp đỡ nhau với đủ các hình thức liên kết chặt chẽ và những quan hệ thân tộc theo huyết thống được phân biệt theo tuổi tác, giai cấp đẳng cấp, địa giới hà chính, kinh tế và tôn giáo là sản phẩm phát triển cao của đời sống xã hội người Việt.

Mỗi gia đình người Việt là tế bào của xã hội đặt ở trong các làng, từ xa xưa đã xuất hiện là những gia đình nhỏ, bao gồm từ hai đến ba thế hệ theo chế độ phụ quyền, nhưng người phụ nữ trong gia đình vẫn giữ những vị trí quan trọng, tương xứng với nền nông nghiệp thuần nông.

Tổ chức Nhà nước theo chế độ trung ương tập quyền bao trùm lên các làng, có sự liên kết giữa các làng với nhau thành một thể thống nhất, có nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau: Đã là loại hình tổ chức Nhà nước sơ khai và đơn giản, đến thế kỷ XIII mới thực sự tổ chức Nhà nước theo mô hình phong kiến quý tộc đến thế kỷ XV thì đã trở thành Nhà nước phong kiến quan liêu:

Về mặt làng nước trong thiết chế chính trị xã hội cổ truyền của người Việt, có một hình thức quan hệ gắn bó chặt chẽ với nghĩa vụ, song lại buông lỏng về tổ chức quản lý, khiến cho làng với cơ chế hầu hết là tự quản. Thực hiện các nghĩa vụ đối với quốc gia của mỗi thành viên dân tộc Việt là nghĩa vụ kéo ''trong làng ngoài nước'',

Các đô thị cổ của người Việt thời xa xưa cũng nằm trong mối quan hệ của tổ chức làng nước, mặc dầu đã có từ rất sớm trải qua nhiều thế kỷ, có nhiều về số và quy mô lớn, trong phạm vi cả nước như Kinh Kỳ, phố Hiến, Hội An, Gia Định ..v.v.. nhưng cũng không làm biến đổi dược tính chất xã hội  mà chỉ kéo dài sự tồn tại của những trung tâm công thương nghiệp tiền tư bản.

Đời sống tinh thần và vật chất của người Việt đã biểu hiện rõ là cư dân nông nghiệp, chưa xây dựng được hệ thống chữ viết riêng, phải dùng chữ Hán, cải tiến sáng tạo ra chữ Nôm từ thế kỷ XI, dùng chữ la tinh thế kỷ XVI, chưa thành một tổ chức có hệ thống lý thuyết cơ bản, có tính khoa học và tính tư tưởng, mà chỉ trên những truyền thống tư duy nguyên thủy, với những trí tuệ đạo đức đơn giản, trải qua các thế hệ tiếp thu chọn lọc, dung hòa biến hóa các tư tưởng Phật, Lão, Nho để xây dựng trên cơ sở nhiều yếu  tố văn hóa của các dân tộc Đông Nam Á. Ngược lại, chính nền văn minh lúa nước của người Việt đã có, ảnh hưởng to lớn đến các dân tộc trong khu vực Đông Nam Á.

Cũng chính nền văn minh Đông Sơn, Văn Lang Âu Lạc đã góp phần xứng đáng vào việc bảo vệ dân tộc Việt, chống lại sự đồng hóa ác liệt, gay gắt, thâm độc của người Hán suốt trong nhiều thế kỷ (trong thiên niên kỷ I) sau Công nguyên.

Đến đầu thiên niên kỷ II thì được phục hưng bước vào thời kỳ phát triển rực rỡ, được mệnh danh là văn hóa Thăng Long, bộ Phận của nền văn minh Đại Việt. Cho đến giữa thiên niên kỷ II sau Công nguyên, mới xuất hiện dòng văn hóa cung đình (năm 2004 được tổ chức UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới) là loại văn hóa bác học, nó phần nào có sự ảnh hưởng cua văn hóa nho học Trung Hoa, tác động qua lại với dòng văn hóa dân gian trong bước phát triển của thời kỳ mới, ở vào cuối thiên niên kỷ II của nền văn hóa dân tộc Việt.

Từ những chiếc trống đồng Lạc Việt có tuổi từ trước Công nguyên đến những truyền thuyết về Bà Trưng, Bà Triệu vào giai đoạn đầu Công nguyên, đến những ngôi chùa được xây dựng ở thế kỷ XI, ngôi đình xây dựng vào thế kỷ XIII là những chứng minh và dấu tích để lại trong lịch sử. Nhiều câu ca dao tục ngữ, nhiều điệu hát dân ca trống quân, quan họ rồi thiền tông Trúc Lâm - Yên Tử ở thế kỷ XIII đến tư tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi thế kỷ XV; từ phong tục thờ cúng tổ tiên đến tín ngưỡng là những sản phẩm có giá trị trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt tiêu biểu là những tác phẩm ''Đại Việt sử ký'' của Lê Văn Hưu thời Trần đến “Truyện Kiều'' của Nguyễn Du, đã nâng lên một tầm cao của nền văn hóa dân tộc Việt đôn hậu thủy chung, kiên cường bất khuất, giàu bản sắc dân tộc.

Người Việt gắn bó trong cộng đồng làng xã của cư dân nông nghiệp, và là một dân tộc trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, đã cùng các dân tộc anh em trong cả nước, thường trực đứng đầu sóng ngọn gió để chống kẻ thù xâm lược, bảo vệ giang sơn và sự tồn vong của các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.



Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 13:32 21/02/2011
Số lượt xem: 373
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến