Gốc > Đất nước Việt Nam > Lịch sử > lịch sử phổ thông > Từ nguồn gốc đến đầu thế kỷ X (thế kỷ thứ 10) > Việt Nam thời nguyên thủy >

Đất nước và dân tộc Việt Nam

            1. Đất nước Việt Nam          

            Nước Việt Nam nằm trong khu vực Đông Nam Châu Á, phía Bắc giáp Trung Quốc; phía Tây và phía Tây Nam giáp Lào, Campuchia; phía Nam giáp biển Đông.

            Đất nước Việt Nam có diện tích 331.590km2 đất liền và 700.000 km2 thềm lục địa. Riêng ở biển Đông, Việt Nam có chiều dài bờ biển là 3.260km với khoảng trên 3.000 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó có 2 quần đảo lớn là Hoàng Sa và Trường Sa.

            Với vị trí địa lý đặc biệt, từ lâu Việt Nam đã trở thành điểm trung chuyển giữa Đông Nam Á hải đảo và Đông Nam Á lục địa, là cầu nối giữa Châu Á và Thái Bình Dương, nơi giao điểm của các tuyến đường từ Nam chí Bắc, từ Đông sang Tây. Cũng do nằm ở vị trí thuận lợi như vậy, đất nước ta từ rất sớm trong lịch sử đã có điều kiện được giao lưu, tiếp xúc với các nền văn hoá - văn minh lớn trên thế giới (như Ấn Độ, Trung Quốc), đồng thời, cũng sớm trở thành mục tiêu dòm ngó, muốn thôn tính của các nước đế quốc. Điều đó qui định qui luật phát triển của lịch sử Việt Nam: dựng nước đi đôi với giữ nước và hình thành nên ở con người Việt Nam một truyền thống quí báu: truyền thống yêu nước, sẵn sàng trả mọi giá để đánh đuổi ngoại xâm, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ.

            Địa hình ở Việt Nam tương đối đa dạng, bao gồm các vùng đồng bằng ven biển, trung du, cao nguyên và núi rừng. Sự phức tạp của địa hình vừa tạo ra mặt hạn chế do bị cắt xẻ, vừa tạo nên sự đa dạng trong hoại hình cư trú và sinh sống của con người. Điều đó góp phần tạo nên đặc trưng văn hóa riêng của mỗi vùng, miền.

            Hệ sinh vật ở Việt Nam rất phong phú, đây là quê hương của nhiều loài động, thực vật quí hiếm trên thế giới. Sự phát triền của rừng rậm nhiệt đới và hệ thống cây cối ở gò, đồi cùng với nhiều loại cây hoa quả khác nhau là một trong những nhân tố quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh sống và phát triển của con người ngay từ thời tiền sử và sơ sử.

            Việt Nam nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm. Nhờ có gió mùa, khí hậu nước ta trở nên điều hoà, thuận lợi cho sự phát triển của sinh vật. Tuy có đủ sắc thái của bốn mùa (xuân, hạ, thu, đông), nhưng ở nước ta khí hậu có sự hình thành hai mùa rũ rệt mùa khô và mùa mưa. Mùa mưa, lượng nước có khi lên tới rất cao. Đi kèm với nó là số lượng các cơn bão, thiên tai trong một năm khá lớn. Khí hậu, một mặt rất ưu đãi cho đời sống sản xuất của con người nhưng mặt khác, cũng trở nên rất khắc nghiệt. Vì vậy để có thể tồn tại, chống lại thiên tai, hạn hán, mưa lũ..., con người Việt đã phải sớm thích nghi với môi trường, đoàn kết và dũng cảm vật lộn với thiên nhiên để từng bước chiến thắng, cải tạo tự nhiên.

            Hệ thống sông ngòi ở Việt Nam khá dày đặc với nhiều hệ thống sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mêkông... Lượng phù sa lớn từ các dòng sông đã giúp bồi đắp nên trên lãnh thổ Việt Nam nhiều dải đồng bằng màu mỡ, rộng lớn. Đó là môi trường thuận lợi cho sự cư trú, sinh tụ của con người, ngay cả khi công cụ lao động của họ chưa phát triển (đồ kim khí chưa xuất hiện hoặc đã xuất hiện nhưng còn ít). Tất nhiên, để có thể trồng trọt canh tác và định cư ở ven bờ các con sông, suối, con người cần phải đoàn kết, chung lưng đấu cật để cùng nhau trị thuỷ, làm thuỷ lợi...

            Có thể nói, những điều kiện tự nhiên thuận lợi của Việt Nam đã tạo ra nền móng quan trọng cho sự xuất hiện, định cư và sinh sống của con người ngay từ buổi đầu của lịch sử. Và, cũng chính những mặt trái, thách thức của vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên đã tạo ra động lực để sớm hình thành nên ở con người Việt Nam những truyền thống tốt đẹp: truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết trong lao động, trong đấu tranh với tự nhiên và các thế lực ngoại xâm.

            2. Dân tộc việt nam

            Con người Việt Nam hình thành từ rất xa xưa trong lịch sử. Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á được coi là một trong những cội nguồn đã chứng kiến sự xuất hiện và tiến hoá của những con người đầu tiên. Các dấu tích về răng hóa thạch người vượn và người hiện đại phân bố nhiều nơi trên đất nước ta là minh chứng xác thực cho điều đó. . .

            Trải qua một quá trình lịch sử lâu dài, dân tộc Việt Nam đã dần hình thành.

            Về mặt nhân chủng, dân tộc Việt Nam thuộc tiểu chủng Môngôlôit phương Nam - ra đời dựa trên sự hoà huyết của hai đại chủng lớn: Môngôlôit và Ôxtralôit.

            Về mặt tộc người, Việt Nam hiện nay có 54 dân tộc anh em với dân số trên 80 triệu dân. Trong đó, đa số là người Kinh (hay người Việt) chiếm tỉ lệ 86%, còn lại 14% là 53 tộc người thiểu số sống rải rác trên khắp các vùng lãnh thổ của cả nước.

            Các tộc người trên đất nước ta trong suốt tiến trình lịch sử đã có sự hoà hợp, gắn bó mật thiết với nhau trong vận mệnh chung của dân tộc. Nhân dân các dân tộc Việt Nam từ sớm đã có truyền thống đoàn kết, không phân chia thiểu số hay đa số, miền núi hay miền xuôi. Họ đã bắt tay cùng nhau xây dựng và bảo vệ đất nước, tạo dựng nên một nền văn hoá Việt Nam giàu truyền thống, đậm bản sắc, đa dạng trong thống nhất.

            Về mặt ngữ hệ, các tộc người sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam được sinh sống thành 8 nhóm ngữ hệ sau đây:

            1. Việt Mường (gồm Việt, Mường, Chứt...)

            2. Tày - Thái (gồm Tày, Nùng, Thái, Bố Y, Cao Lan, Sán Chỉ...)

            3. H'Mông - Dao (gồm H'Mông, Dao, Pà Thẻn...)

            4. Tạng - Miến (gồm Hà Nhì, Lô Lô, Xá...)

            5. Hán (gồm Hoa, Sán Dìu...)

            6. Môn - Khmer (gồm Khơmú, Kháng, Xinh Mun, H'Rê, Xơ đăng, Ba Na, K’ho, Mạ, Rơ măm, Khmer...)

            7. Mã Lai - Đa Đảo (gồm Chăm, Gia Rai, Êđê, Raglai...)

            8. Hỗn hợp Nam Á (gồm La Chí, La Ha, Pu Péo...)

            Mỗi tộc người với ngôn ngữ và tập quán sinh sống riêng đã tạo ra bản sắc văn hóa riêng của dân tộc mình. Điều đó tạo nên tính độc đáo, làm phong phú, đa dạng cho văn hoá Việt Nam. Tuy nhiên, tính phong phú, đa dạng của văn hoá các tộc người không làm mất đi tính thống nhất trong hằng số chung của nền văn hoá Việt Nam. Hằng số chung ấy chính là tâm thức hướng về cội nguồn của dân tộc (như sự tích Hồng Bàng, truyền thuyết Lạc Long Quân - Âu Cơ của người Việt hay truyện Quả bầu mẹ của người Mường...).

            Từ ý niệm cùng chung một cội nguồn, các dân tộc Việt Nam đã cùng nhau xẻ chia, gánh vác, luôn sát cánh bên nhau trong lao động và chiến đấu tạo thành một khối đại đoàn kết dân tộc vang mạnh. Khối đại đoàn kết ấy là sức mạnh vô địch đã giúp cả dân tộc ta lần lượt giành lại độc lập, tự do từ sau Cách mạng tháng tám, chiến thắng các kẻ thù xâm lược trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và đang tiếp tục giành được những thắng lợi to lớn trong công cuộc đổi mới, xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa hiện nay.

 


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 13:57 24/01/2011
Số lượt xem: 746
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến