Gốc > Đất nước Việt Nam > Lịch sử > lịch sử phổ thông > Từ 1858 đến 1930 > Việt Nam từ năm 1858 đến 1884 >

Hiệp ước Harmand, Paternotre và trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc làm mất nước

Hiệp ước Harmand, Paternotre và 
trách nhiệm của nhà Nguyễn trong việc làm mất nước

Trong quá trình thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, triều đình Huế đã từng bước kí với Pháp những bản Hiệp ước như Hiệp ước Nhâm Tuất (1862), Hiệp ước Giáp Tuất (1874): nhường một phần đất đai là sáu tỉnh Nam Kì, người Pháp được tự do buôn bán và kinh doanh... Cuối cùng, triều đình Huế kí hai bản Hiệp ước Harmand (25-5-1883) và Hiệp ước Paternotre (6-6-1884), đầu hàng hoàn toàn thực dân Pháp.

Hiệp ước Harmand gồm 27 điều khoản mà những điểm cơ bản là:

- Việt Nam thừa nhận Pháp bảo hộ, mọi việc ngoại giao gồm cả quan hệ với nhà Thanh đều do Pháp chủ trì và làm trung gian. Pháp bảo vệ triều đình chống ngoại xâm và giúp dẹp nội loạn ở trong nước cũng như ở ngoài nước, người Việt Nam bị coi như những dân bảo hộ chính thức của Pháp. Ở Bắc Kì, các tỉnh lớn có công sứ (Hà Nội, Hải Phòng và các cửa biển...), các tỉnh nhỏ có quan chức Pháp có một đơn vị lính pháp hay bản xứ bảo vệ, tuy các tên này không can thiệp chi tiết vào việc cai trị nhưng lại có quyền thay đổi quan lại bản xứ nào có ý định không tốt với Pháp và có quyền kiểm soát việc tuần phòng, thống nhất chỉ huy thuế vụ và giám sát chi thu, hoàn toàn trông coi về thuế quan Pháp sẽ cung cấp huấn luyện viên, sĩ quan, kĩ thuật viên ..., để nắm mọi ngành của triều đình.

Tỉnh Bình Thuận sẽ sáp nhập vào Nam Kì, thay cho món nợ chiến phí triều đình còn thiếu Pháp. Khu vực do triều đình cai trị “như cũ” chỉ còn lại tỉnh Khánh Hòa tới Đèo Ngang (có nghĩa và đất bảo hộ Bắc Kì sẽ bao gồm cả Nghệ An, Hà Tĩnh, Thanh Hóa). Trong khu vực này, quan lại triều đình cai trị như cũ không bị quân Pháp kiểm soát, nhưng các việc thương chính, công chính đều do Pháp nắm...

Về quân sự, ngoài việc phải nhận huấn luyện viên và sĩ quan của Pháp, triều đình phải triệt hồi các đội quân đã điều động ra Bắc trước đây, để Pháp đóng lính ở Đèo Ngang, Thuận An, xây dựng lại các đồn cửa Đông thành Huế theo ý của Pháp, cho Pháp được đóng binh ven sông Hồng và những nơi nào xét thấy cần thiết, để Pháp xử trí hoàn toàn quân Cờ Đen.

Về kinh tế tài chính, ngoài việc Pháp nắm thuế quan và mọi công việc thuế vụ, triều đình phải để cho đồng bạc Mễ Tây Cơ (tiền Mexico) và tiền tệ do nhà băng Đông Dương ở Nam Kì phát hành được tự do lưu hành ở toàn quốc. Triều đình, ngoài cửa biển Qui Nhơn, phải mở cửa biển Đà Nẵng, Xuân Đài (Phú Yên) và các cửa biển khác nữa nếu sau này xét thấy có lợi.

Ngày 6-6-1884, một bản Hiệp ước mới được kí kết và thay thế cho Hiệp ước Harmand. Đó là Hiệp ước Paternotre hay Hiệp ước Giáp Thân, gồm 19 điều khoản và về cơ bản giống Hiệp ước Harmand. Những điểm thay đổi so với Hiệp ước năm 1883 chủ yếu là về mặt địa lý hành chính: tỉnh Bình Thuận không thuộc Nam Kì nữa mà trả lại cho triều đình Huế, ba tỉnh Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa cũng sẽ thuộc Trung Kì. Pháp phân chia nước ta thành ba kì với chế độ cai trị khác nhau: Nam Kì là xứ thuộc địa nên sẽ áp dụng hình thức trực trị (tức là cai trị trực tiếp), Bắc Kì và Trung Kì là xứ bảo hộ.

Trách nhiệm để mất nước ta thuộc về ai? Mức độ trách nhiệm của triều đình Huế đến đâu? Có nhiều ý kiến khác nhau về vấn đề này khi luận công, tội của nhà Nguyễn. Chúng ta cần đánh giá khách quan, công minh, công bằng. Có thể thấy rằng: Nhà Nguyễn đã biến việc mất nước từ không tất yếu trở thành tất yếu và triều đình nhà Nguyễn nói chung, triều Đình Tự Đức nói riêng phải chịu trách nhiệm chính khi để mất nước ta vào tay thực dân Pháp. Bởi vì:

Thứ nhất: khi phải đối mặt với cuộc chiến tranh, nhà Nguyễn còn chậm trễ trong đối phó, do dự và không có đường lối kháng chiến rõ ràng. Chiến sự nổ ra từ tháng 8-1858 nhưng đến tháng 10-1859, Viện Cơ mật mới họp bàn để tìm cách đối phó và ý kiến đưa ra rất khác nhau. Súng giặc đã nổ bên tai, nguy cơ mất nước đã cận kề vậy mà nhiều người vẫn chủ trương dùng binh thư nhàn, ngồi chờ giặc như chủ chờ khách thì thật là sai lầm và bị động. Phái chủ chiến trong triều cũng có nhưng chỉ là thiểu số. Phần lớn từ vua đến quan đều lưng chừng, nghiêng về nghị hòa nhưng không phải là lùi một bước để tiến hai bước như trong binh pháp mà thực chất là nhượng bộ dần từng bước và đi đến đầu hàng hoàn toàn.

Thứ hai: khi chiến tranh diễn ra, thay vì khích lệ, huy động nhân dân cầm vũ khí đánh giặc thì nhà Nguyễn lại quay lại ngăn cản, hạ lệnh triệt binh ở nhiều nơi và thậm chí còn đàn áp phong trào kháng chiến của nhân dân ở một số nơi. Lúc này vận mệnh dân tộc bị đe dọa, nhân dân ta đã tạm gác mối thù giai cấp để chống giặc nhưng vua quan nhà Nguyễn, với vai trò là người trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến, lại không biết phát huy tinh thần dân tộc. Họ sợ dân hơn sợ giặc và lo mất quyền lợi giai cấp khi phải đối mặt với Pháp và phong trào nông dân. Trong dân gian còn lưu truyền những câu như

“Triều đình khi dân”,

“Làm vua ra rồi, Một lòng bán nước! Khi đang đánh được! Không đánh gấp cho” (vè Nghệ Tĩnh).

Thứ ba: nhà Nguyễn đã nhiều lần bỏ lỡ cơ hội, thời cơ để đánh đuổi giặc Pháp ra khỏi bờ cỏi. Trong thời gian từ năm 1858-1884, không phải lúc nào lực lượng của địch cũng đông và áp đảo hơn ta, thậm chí có những lúc chỉ có 1000 tên địch trên một phòng tuyến dài 10km (mặt trận Gia Định năm 1861). Như vậy có thể thấy rằng trách nhiệm để mất nước là thuộc về nhà Nguyễn – đây là một hiện thực lịch sử không thể phủ nhận. Một người Pháp là Charles Gosselin đã thừa nhận: “Những vị hoàng đế An Nam phải chị trách nhiệm về sự đổ vỡ và xuống dốc của đất nước họ. Dân xứ này, quan lại, binh lính xứng đáng có quyền được những người cầm đầu giá trị hơn thế. Chính quyền của họ mù quáng vì không dự liệu, không chuẩn bị gì hết



Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 19:14 24/01/2011
Số lượt xem: 2492
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến