Nhà nước Văn Lang
Nhà nước Văn Lang
1. Sơ lược nhà nước Văn Lang
Do những yêu cầu về thủy lợi, tự vệ chống ngoại xâm cùng với sự chuyển biến kinh tế xã hội, các bộ lạc sinh sống trên vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ nước ta đã tự nguyện liên minh với nhau. Trong số các bộ lạc đó, bộ Văn Lang hùng mạnh nhất. Thủ lĩnh của bộ lạc này đã nắm quyền cai trị, lấy hiệu là Hùng Vương, đặt quốc hiệu là nước Văn Lang, đóng đô tại Phong Châu (Phú Thọ).
Lý giải thêm về tên gọi Hùng Vương chúng ta thấy một số điều thú vị. "Vương'' là chức vi, “Hùng” có thể là tên của một dòng họ. Hùng Vương theo cách đọc của tiếng Việt là Vua Hùng. Việc lấy danh, hiệu chứng tỏ người thủ lĩnh này thực rất rõ về vị trí của mình trong cộng đồng dân cư. Vua Hùng là người nắm giữ quyền lực cao nhất trong cả nước. "Các vua Hùng là sản phẩm trực tiếp của sự phân công xã hội về tài sản đã quá sâu sắc, như là kẻ đại diện cho lợi ích của tầng lớp thống trị xã hội, là hiện thân về quyền lực chính trị tối thượng”.
Theo truyền thuyết vua Hùng đã rất nhiều lần tìm đất định đô trước khi lựa chọn Phong Châu. Khi đến vùng đất đai bằng phẳng rộng rãi (nay thuộc xã Thanh Vân, huyện Thanh Ba, Phú Thọ), vua sai chim đại bàng đắp 100 gò hẹn trước khi trời sáng phải xong. Nhưng đại bàng mới chỉ khuân đá đắp được 99 quả đồi thì trời sáng, vua liền bỏ đi. Đi theo sông Thao tới vùng sông nước mênh mông, phía sau là núi cao (hay là Ao Châu, huyện Hạ Hòa, Phú Thọ), vua khen cảnh đẹp nhưng không có thế mở rộng nên bỏ đi. Tới vùng Phong Châu - nơi trước mặt có ba sông tụ lại, hai bên có núi bao bọc, xung quanh là vùng đồng bằng mầu mỡ phù sa, vua thực cho rằng đây chính là vùng đất họp muôn dân, đủ hiểm để giữ, có thể để mở mang thêm đất đai. Tương truyền rằng cung điện nhà vua dựng ở Gò Làng Cả thôn Việt Trì, Tháp Long là nơi các Lạc hầu ở, Lầu Thượng, Lầu Hạ là khu lầu vợ con vua ở, Cấm Đội (Thụy Vân) là nơi đặt trường huấn luyện quân sĩ, Gò Tiên Cát là nơi dựng lầu kén chồng cho các công chúa, Nông Trang là nơi đặt kho thóc của nhà vua.
Mặc dù tồn tại nhiều giả thiết khác nhau xung quanh sự xuất hiện của vua Hùng và nhà nước Văn Lang, tuy nhiên thông qua các tài liệu lịch sử, bằng kết quả của khảo cổ học chúng ta khẳng định chắn chắn rằng sự tồn tại của nhà nước Văn Lang là một sự thật lịch sử không thể nào phủ nhận. Trong một thời gian khá dài, chúng ta đã nhận thức khá mơ hồ về thời gian ra đời của nhà nước Văn Lang. Câu nói ''đất nước ta có bốn nghìn năm lịch sử rất quen thuộc với nhiều người dân Việt Nam. Con số 4.000 năm thực chất chỉ là một con số mang tính chất ước lệ tượng trưng phản ánh truyền thống lịch sử lâu đời của dân tộc ta. Thành tựu của khảo cổ học cùng với kết quả khảo cứu các tài liệu lịch sử đã cho phép chúng ta xác định thời gian nhà nước Văn Lang ra đời vào khoảng thế kỉ VII - VI TCN. Sách “Việt sử lược” (viết vào khoảng thế kỉ XIV) ghi chép sự kiện nhà nước Văn Lang ra đời là vào khoảng năm 696 - 682 TCN.
Phạm vi của nước Văn Lang bao gồm chủ yếu vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ nước ta. Nhiều ý kiến khác cho rằng phần cương giới phía Bắc của nước Văn Lang xưa còn kéo dài một phần sang lãnh thổ Trung Quốc bao gồm các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây. Sách ''Đại Việt sử ký toàn thư lại giới hạn phạm vi của nước Văn Lang khá rộng lớn: phía Đông giáp Nam Hải, phía Tây đến nước Ba Thục, phía Bắc đến hồ Động Đình, phía Nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam. Các sử thần triều Nguyễn sau này đã rất nghi ngờ về giới hạn lãnh thổ này. ''Sử cũ chép nước Văn Lang phía Tây tiếp Ba Thục, phía Bắc đến Động Đình chẳng quá là sự thật lắm ru?''. Giới hạn lãnh thổ phía Đông giáp Nam Hải tức biển Đông và phía Nam giáp nước Hồ Tôn là xác thực. Nhưng nếu giới hạn phía Bắc tới hồ Động Đình, phía Tây liền nước Ba Thục tức là bao gồm cả vùng Hoa Nam Trung Quốc ngày nay- là nơi cư trú của các dân tộc Bách Việt xưa chứ không chỉ riêng người Lạc Việt. Bên cạnh đó, nếu ta xem xét vị trí của 15 bộ thời vua Hùng chúng ta sẽ thấy phạm vi lãnh thổ nước Văn Lang chủ yếu chỉ bao gồm miền Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ ngày nay mà thôi.
Vua Hùng chia cả nước thành 15 bộ. Bộ là một đơn vị hành chính do một chức quan của nhà nước cai quản là Bồ chính. Theo sách ''Đại Việt sử ký toàn thư” do Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê biên soạn vào thế kỉ XV, tên gọi 15 bộ của nhà nước Văn Lang là:
v Giao Chỉ ( nay tương ứng với Hà Nội, Hà Đông, Nam Đình, Hưng Yên)
v Chu Diên (nay tương ứng với Sơn Tây)
v Phúc Lộc (nay tương ứng với Sơn Tây)
v Vũ Ninh ( nay tương ứng với Bắc Ninh)
v Việt Thường (nay tương ứng với Quảng Nam)
v Ninh Hải (nay tương ứng với Quảng Yên)
v Dương Tuyền (nay tương ứng với Hải Dương)
v Lục Hải (nay tương ứng với Lạng Sơn)
v Vũ Định (nay tương ứng với Thái Nguyên, Cao Bằng)
v Hoài Hoan (nay tương ứng với Nghệ An)
v Cửu Chân (nay tương ứng với Thanh Hoá)
v Bình Văn (chưa rõ ở đâu)
v Tân Hưng (nay là Hưng Hoá, Tuyên Quang)
v Cửu Đức (nay là Hà Tĩnh)
v Văn Lang (nay thuộc hai tỉnh Vĩnh Phúc, Phú Thọ)
Theo Ngô Sĩ Liên trong ''Đại Việt sử ký toàn thư ngoài 15 bộ đó đều có đơn vị trưởng và tá do các con theo thứ tự chia nhau để cai trị. Đơn vị cư dân nhỏ nhất dưới thời Hùng Vương là kẻ, chiềng, chạ (tên gọi cổ của làng xã). Nhà nghiên cứu Bùi Thiết cho rằng: ''Mỗi một đơn vị Kẻ - làng Việt cổ, có địa vực riêng, ngoài khu đất cư trú cho cả làng sinh cư… còn có ruộng nương, đất bãi chăn thả gia súc, đất đầm ao, và nếu ở trung du, miền núi nhiều làng sử dụng chung đất rừng để hái lượm, lấy củi, chăn thả trâu bò… Đặc biệt đất để cư trú, tức là làng bản có ranh giới rõ ràng, mỗi làng tùy hoàn cảnh có thể rào dậu chung quanh bằng những rặng tre…”
Tương truyền Vua Hùng truyền ngôi cho con được 18 đời kể từ Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Quốc Vương, Hùng Diệp Vương, Hùng Hy Vương, Hùng Huy Vương, Hùng Chiêu Vương, Hùng Vi Vương, Hùng Định Vương, Hùng Uý Vương, Hùng Chinh Vương, Hùng Vũ Vương, Hùng Việt Vương, Hùng Ánh Vương, Hùng Triều Vương, Hùng Tạo Vương, Hùng Nghị Vương, Hùng Duệ Vương
Cách tổ chức bộ máy nhà nước Văn Lang rất sơ giản. Vua Hùng “Đặt tướng văn là Lạc hầu, tướng võ gọi là Lạc tướng. Con trai vua gọi là Quan lang, con gái vua gọi là Mị nương, quan coi việc gọi là Bồ chính”. Vua Hùng đứng đầu nhà nước, giúp việc cho vua là các Lạc tướng, Lạc hầu. Lạc tướng trực tiếp cai quản công việc tại các bộ. Lạc tướng được duy trì theo hình thức cha truyền con nối. Bồ chính phụ trách việc quản lí các bản làng hoặc chuyên trách các công việc như thu nạp cống phẩm, trông coi việc xây dựng các công trình công cộng… Bồ chính thường là những người cao tuổi tại làng bản đó.
Dân số cuối thời Văn Lang có khoảng 500.000 người. Thành phần dân cư chiếm đa số trong xã hội dưới thời các vua Hùng là nông dân (lạc dân). Nông dân sinh sống trong các làng bản, tiến hành hoạt động nông nghiệp là chủ yếu. Họ có trách nhiệm thực hiện mọi nghĩa vụ đối với nhà nước. Ngoài ra còn có một bộ phận nhỏ nô tì phục vụ trong các gia đình giàu có, trong cung vua gọi là xảo ngưỡng. Sự phân hóa giữa các tầng lớp xã hội chưa rõ rệt.
Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp khi có công cụ lao động bằng đồng và sắt, vai trò của người đàn ông càng được nâng cao. Xã hội dần chuyển sang xã hội phụ quyền nhưng không có sự phân biệt quá sâu sắc giữa phụ nữ và đàn ông trong gia đình.
Nhà nước đã có những luật lệ riêng để quản lí đất nước. Ngày nay chung ta chưa tìm thấy những tài liệu cụ thể ghi chép về bộ luật này mà chỉ biết rằng bộ luật đó so sánh với luật của nhà Hán bên Trung Quốc thì hơn 10 điều. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng trong xã hội Hùng Vương, nhà nước cai trị chủ yếu bằng luật tục. Ví dụ như luật tục hôn nhân một vợ một chồng, vua và các lạc tướng thường lựa chọn con trưởng để nối ngôi…
Sự ra đời của nhà nước Văn Lang đánh dấu giai đoạn quan trọng trong tiến trình lịch sử Việt Nam.
2. Đời sống vật chất và tinh thần
v Đời sống vật chất
Hoạt động sản xuất nông nghiệp của cư dân Văn Lang khá đa dạng với việc trồng trọt và chăn nuôi. Vua Hùng dạy dân cách đắp bờ giữ nước, trị thủy các dòng sông để đảm bảo nguồn nước cho các cánh đồng lúa. Về cơ bản có hai loại ruộng chính là ruộng nương và ruộng nước. Ruộng nương phân bố ở các vùng trung du, ven sườn đồi. Ven sông với những dải đất phù sa màu mỡ, gần nguồn nước là nơi thuận lợi để làm ruộng nước. Cư dân căn cứ theo sự lên xuống của thủy triều để làm ruộng. Sự xuất hiện của các lưỡi cày, lưỡi cuốc bằng đồng chứng tỏ kĩ thuật canh tác của cư dân thời Hùng Vương có bước phát triển mới. Nếu như ở các giai đoạn trước, cư dân chủ yếu dùng gậy chọc lỗ để tra hạt chờ thu hoạch thì nay với lưỡi cày lưỡi cuốc, người dân có thể gieo trồng trên nhiều loại địa hình đất khác nhau. Kĩ thuật dùng cày, dùng cuốc giúp người dân xới đất tơi xốp hơn, gieo hạt ở độ sâu hơn, hạt phát triển tốt hơn, cho vụ mùa thu hoạch năng suất cao hơn. Người dân biết tận dụng sức kéo của trâu bò để việc dùng cày phát huy hiệu quả hơn. Những chiếc liềm, chiếc hái xuất hiện trong các di chỉ thuộc niên đại thời Hùng Vương đã cho phép tái hiện lại cách thức thu hoạch lúa của cư dân Hùng Vương.
Lúa tẻ và lúa nếp là hai loại cây trồng chính. Lúa được trồng và thu hoạch theo mùa vụ chứng tỏ người dân đã biết căn cứ vào điều kiện tự nhiên để tiến hành hoạt động nông nghiệp. Sáhc “Di vật chí” chép rằng ở Giao Chỉ có loại nếp hương, mỗi năm trồng hai vụ, ở Tượng Lâm thì có hai loại ruộng bạch điền và xích điền. Ruộng Bạch điền trồng lúa trắng, gieo trồng vào tháng 7 đến tháng 10 thì chín. Ruộng xích điền trồng lúa đỏ vào tháng Chạp, đến tháng 4 thu hoạch. Một phần thóc sau khi thu hoạch được dùng ngay, còn lại chứa trong các hầm chứa thóc. Tại di chỉ khảo cổ học Gò Mun, ở độ sâu 1,06m đã phát hiện một hầm chứa thóc. Để tách vỏ trấu, người ta dùng nhiều hình thức khác nhau. Họ có thể dùng chày nghiền bàn nghiền nhưng phổ biến hơn là sử dụng cối giã thóc.
Ngoài lúa, cư dân Văn Lang còn trồng thêm khoai lang. Đôi khi khoai lang trở thành một món ăn hàng ngày của người dân thay cho cơm. Khoai lang ở Giao Chỉ có hai loại là phiên chư và sơn chư. Khoai thường được trồng vào tháng hai, thu hoạch vào tháng mười. Giống khoai này khi trồng cho nhiều củ, để lâu thì vị nhạt dần. Cư dân Hùng Vương còn trồng nhiều loại rau củ, hoa màu, cây ăn quả như sắn, ngô, đậu, chuối, vải, dưa hấu…
Người dân Văn Lang chăn nuôi nhiều loại gia súc, gia cầm. Nghề chăn nuôi xuất phát từ việc săn bắt các con vật hoang. Các con vật này sau được thuần dưỡng và nuôi nhằm vào các mục đích khác nhau của cư dân. Trâu bò được nuôi để lấy thịt nhằm bổ sung thêm nguồn thức ăn hàng ngày của người dân.
Cư dân Văn Lang là chủ nhân của nhiều nghề thủ công như luyện kim, làm gốm, dệt vải, làm đồ trang sức. Các sản phẩm như rìu, cuốc, giáo, mũi tên, áo giáp… là kết quả của cả một quá trình lao động kĩ thuật với nhiều công đoạn khác nhau: pha chế hợp kim, làm khuôn đúc, xây lò nung. Các giai đoạn này đòi hỏi sự phối hợp của nhiều người thợ thủ công. Phân tích thành phần hợp chất trong các đồ đồng có niên đại thuộc thời kỳ Hùng Vương đã khiến chúng ta bất ngờ bởi trình độ sản xuất của người xưa. Tùy theo công dụng của từng loại công cụ mà từng chất trong hợp chất được pha với tỉ lệ khác nhau. Những công cụ đòi hỏi độ cứng thì tỉ lệ đồng chiếm từ 80% đến 90% trong hợp kim, tỉ lệ thiếc chiếm 10 – 20%, thì chiếm không quá 0,4%. Để gia tăng độ mềm và độ bền của công cụ, tỉ lệ chì trong hợp kim tăng lên. Phân tích các mũi tên thuộc di chỉ Đường Mây, hàm lượng chì là 9,77%; mũi giáo thuộc di chỉ Đình Chàng tỉ lệ chì là 2,5%. Trống đồng thường có hàm lượng chì chiếm 10% đến 28%. Nhiệt độ trong các lò nung cũng được điều chỉnh khác nhau thùy theo sản phẩm. Đối với các đồ đồng như mũi tên, mũi giáo, lưỡi rìu nhiệt độ lò nung khoảng 11000C nhưng khi luyện các sản phẩm phức tạp như thố, thạp, trống đồng thì nhiệt độ lò nung phải tăng lên trên 14000C. Nhiệt độ ngày càng cao thì độ lỏng của hợp kim càng cao, để khi đổ từ khuôn đúc ra từng chi tiết nhỏ nhất đều được thể hiện rõ nét trên sản phẩm. Đồ đồng từ đơn giản đến phức tạp hầu hết đều có khuôn đúc. Khuôn đúc có thể được làm từ chất liệu như đất pha cát, rơm rạ. Sản phẩm tinh xảo bao nhiêu thì khuôn đúc được chế tác tỉ mỉ bấy nhiêu. Ví dụ như khuôn đúc trống đồng có cấu tạo với nhiều chi tiết. Đó là khuôn đúc có cấu tạo hai mang, mặt khuôn nhẵn và rất kín với chỗ đánh dấu giáp khuôn. Trên khuôn còn có lỗ thông hơi.
Trống đồng là một trong những sản phẩm đặc sắc nhất, mang sức sáng tạo nhất của người thợ luyện kim. Trống đồng vừa là một loại nhạc khí vừa là một biểu hiện cho quyền uy của các thủ lĩnh quân sự. Trống đồng Ngọc Lũ (tìm thấy ở Hà Nam) là một chiếc trống đồng cổ nhất to nhất và đẹp nhất. Trống cao 63cm, đường kính mặt 79cm, đường kính chân 80cm, tang trống chỗ rộng nhất có đường kính 85cm. Bốn đôi quai kép gắn vào phần tang và phần giữa thân trống. Trên mặt trống, tang trống, thân trống đều được trang trí hoa văn.
Nghề làm gốm đến thời Hùng Vương có nhiều chuyển biến. Kĩ thuật bàn xoay được sử dụng khá phổ biến để tạo ra các sản phẩm gốm nhằm giúp việc tạo ra xương gốm đều hơn và dầy hơn. Nhiệt độ nung trong các lò gốm đát tới 9000C. Gốm sau khi được nung có màu xám xanh và xám mốc. Hoa văn được trang trí trên mặt ngoài thân gốm hoặc mặt trong gốm. Các sản phẩm từ gốm đa dạng phục vụ cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau. Đó là các loại nồi, âu, vò, chậu, bát, đĩa, chén, cốc…
Trên các đồ đồng, đồ gốm thuộc nền văn hóa Đông Sơn, chúng ta thấy có in dấu vải. Cư dân thời Hùng Vương biết sử dụng các nguồn nguyên liệu sẵn có trong tự nhiên để dệt vải. Vải được dệt chủ yếu từ vỏ cây, sợi đay, tơ tằm, bông.
Vòng tay, nhẫn, hoa tai khóa thắt lưng… phong phú, thể hiện phần nào tài hoa của người thợ làm đồ trang sức.
Lúa gạo là nguồn lương thực chính của cư dân Văn Lang. Sách “Lĩnh nam chích quái” ghì rằng thời Hùng Vương sản xuất được nhiều nếp gạo và họ lấy ống tre để thổi cơm. Người Văn Lang dùng chõ gốm để thổi xôi. Từ gạo nếp, gạo tẻ, họ đã chế biến thành nhiều món ăn như bánh chưng, bánh dày, bánh trôi nước.

Hình ảnh gói bánh chưng
Kỹ thuật muối, ủ chua một số loại rau củ cho phép người dân giữ được thức ăn lâu hơn. Loại gia vị như gừng, tỏi, riềng cũng được người Văn Lang sử dụng tới. Người dân vẫn sử dụng nguồn nước có sẵn trong tự nhiên như nước trong các dòng sông dòng suối để uống. Cùng với thời gian, cư dân Hùng Vương dần biết tới một vài loại lá cây khi vò ra lấy nước uống lại có vị ngon hơn như lá chè.
Đời sống tuy đơn giản, kĩ thuật dệt vải còn sơ khai nhưng trang phục của cư dân Hùng Vương khá phong phú. Tùy theo hoàn cảnh sống, vào dịp lễ hội hay trong sinh hoạt hàng ngày mà trang phục của cư dân có sự khác nhau. Trang phục của người phụ nữ bao gốm áo, váy, khăn mũ. Áo mặc có các loại áo ngắn đến bụng, áo cánh ngắn khoét cổ vuông để hở ngực và vai, áo choàng dài, áo yếm che ngực. Váy có loại váy quấn và váy chui. Váy chui hình ống luồn qua đầu hay từ dưới chân lên. Váy quấn thường là một tấm vải bản rộng thường được quấn ngang phần thân dưới. Khăn thắt thường ngang lưng. Trên váy áo của phụ nữ thường có các hình trang trí như các chấm tròn. Đó có thể là những chấm tròn đều, cứ ba chấm lại có vạch chéo chạy song song theo tà áo hoặc là những vòng tròn có chấm ở tâm.
Đàn ông thường cởi trần đóng khố. Khố là một mảnh vải quấn quanh người có loại khố quấn đơn và quấn kép. Vào những dịp lễ hội, người dân còn sử dụng lông chim để trang trí lên những chiếc váy hay tết thành hình chiếc mũ đội đầu. Dân sống quanh vùng sông nước có tục xăm mình nhằm tránh sự xâm hại của loài giao long – một loại sinh vật sống dưới nước. Khi chiến đấu, các Lạc hầu và Lạc tướng có thêm áo giáp hộ thân, đai lưng, bao ống tay, bao ống chân.
Thời Hùng Vương cư dân thường để kiểu tóc cắt ngắn để tiện cho việc đi lại trong rừng núi. Ngoài ra còn có các kiểu tóc khác nhau như để dài buông xõa sau lưng, vấn búi trên đầu hay sau gáy. Người ta có thể dùng khăn để buộc qua đầu giữ tóc cho thật gọn. Trong tác phẩm “Hành trình về thời đại Hùng Vương dựng nước”, bằng những hình vẽ sinh động tác giả Lê Văn Hảo đã tái hiện lại một số kiểu tóc của cư dân thời Hùng Vương:

Loại hình nhà ở phổ biến của cư dân Văn Lang là nhà sàn. Nhà sàn được làm từ gỗ. Nhà sàn thấp, mái cong hình thuyền. Nhà sàn thích hợp đối với địa hình vùng trung du, ven sườn đồi vừa tránh được thú dữ. Nhà đều có cầu thang lên xuống. Tại các di chỉ thuộc huyện Đông Sơn tỉnh Thanh Hóa, nhiều cột gỗ dùng để dựng nhà đã được tìm thấy. Đó là những cột gỗ to, dài từ 4 đến 5m. Dân cư còn sinh sống trong những ngôi nhà với tường đắp bằng đất, mái lợp cỏ hay mái lá. Ngoài nhà chuyên dùng để ở, tùy theo mục đích sử dụng mà người dân làm thêm nhà bếp, nhà kho hay chuồng chăn nuôi gia súc. Nhà kho được xây theo kiểu nhà sàn thấp, tròn, mái hình mui thuyền. Mỗi cộng đồng dân cư lại có một ngôi nhà sàn chung - nơi tổ chức các sinh hoạt tập thể.
v Đời sống tinh thần
Lễ hội
Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tập thể của một cộng đồng cư dân. Trên hoa văn của trống đồng Đông Sơn còn lưu lại nhiều hình vẽ làm bừng dậy một cách sống động các lễ hội của cư dân Văn Lang. Lễ hội thường diễn ra bên trong hoặc xung quanh một ngôi nhà sàn lớn của cả cộng đồng.
Ngày hội đua thuyền được nhân dân tham gia hưởng ứng. Đua thuyền vừa thể hiện ước mong mưa thuận gió hòa vừa là hình thức rèn luyện kỹ năng bơi thuyền, rèn luyện sức khỏe. Những chiếc thuyền độc mộc với mũi thuyền cong vút được trang trí như dầu chim, đầu rắn; mình thuyền thon dài. Trên thuyền có một người đứng giữa chỉ huy chung và người chèo co chân ra sức đẩy bơi chèo. Phía đằng lái là một người đứng kiễng chân ghì bánh lái. Trên thuyền còn có người cầm nhạc cụ diễn tấu nhằm cổ vũ tinh thần của các tay chèo.
Một hình thức giao duyên của các chàng trai, cô gái ngày xưa thể hiện qua trò chơi chồng nụ chồng hoa (hay còn gọi là cài hoa, kết hoa). Từng trai gái mặt đối mặt, lồng chân giao tay với nhau cùng hát theo nhịp đánh trống của người bên cạnh.
Múa là một hình thức sinh hoạt văn hóa với các động tác phối hợp phô diễn hình thể. Trên một số đồ đồng đã khắc họa lại hình ảnh từng tốp từ 4 đến 7 người với trang phục cầu kỳ, váy xòe rộng, đầu đội mũ lông chim cao vút cùng nhau nhảy múa. Nhảy múa là hoạt động không thể thiếu trong những dịp lễ hội của cư dân Văn Lang. Quan sát các hình ảnh khắc họa trên các hiện vật bằng đồng cho phép chúng ta tái hiện lại ba hình thức múa phổ biến của cư dân Văn Lang. Thứ nhất là điệu múa hóa trang hình chim. Điệu múa này được nhận ra khá rõ với hình ảnh người đội mũ lông chim, mặc váy xòe bằng lông chim với đôi bàn tay xòe uốn, cánh tay dang rộng như đôi cánh chim đang bay. Điệu múa thứ hai khá đặc sắc là múa vũ trang. Điệu múa này thường được thể hiện bởi một nhóm người. Người múa chính tay cầm giáo tay gõ nhịp phách hoặc tay cầm rìu chiến tay cầm khiên mộc. Xung quanh là những người cầm nỏ hay cung tên, những người thổi khèn, người lắc chuông, người đánh chống đệm cho từng nhịp múa. Điệu múa này vừa thể hiện sự nhịp nhàng uyển chuyển vừa toát lên sự mạnh mẽ dứt khoát của từng động tác. Điệu múa với nhạc khí phản ánh đậm nét tính chất ngẫu hứng của người biểu diễn. Những động tác múa có thể được phối hợp với nhịp rung của nhạc chuông, với nhịp gõ của sênh phách hoặc vừa múa vừa thổi khèn. Nhưng điệu múa đó vừa cho ta thấy sự khéo léo vừa cho ta cảm nhận rất rõ sức sáng tạo tuyệt vời của người dân Văn Lang.
Có thể ví nhạc cụ là luồng sinh khí thổi linh hồn cho từng lễ hội. Nhạc cụ của người Văn Lang rất đa dạng và khá đồng bộ. Đứng đầu các loại nhạc cụ là trống đồng, tiếp đó đến chuông, lục lạc, sáo, sênh, phách, tù và,…

Hình ảnh múa vũ trang khắc họa trên trống đồng
Trống có nhiều loại. Trống đồng thường được đánh từng đôi một hoặc thành từng dàn. Những người đánh trống hóa trang trong các bộ lễ phục gắn lông chim. Mặt trống và tang trống phìng ra thành một vòm chứa âm thanh, cộng hưởng và chuyển qua thân trống hình trụ. Âm thanh dồn lại rồi vỡ òa ngoài từ chân trống loe rộng như miệng loa. Tác động vào từng vị trí khác nhau trên mặt trống hay thân trống sẽ mang lại những âm thanh trầm hùng hay cao vút. Khi đánh trống đồng Ngọc Lũ nếu đánh ở giữa mặt trống thì âm thanh trầm ấm, đánh ở phía bên ngoài thì tiếng thanh hơn. Tiếng trống là lời cầu mong trời đất mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu.

Trích theo “Hành trình về thời đại Hùng vương dựng nước” của Lê Văn Hảo
Trống da có kích thước đường kính khoảng 20cm, chiều cao khoảng 30cm. Trống được đặt nằm và đánh ngang vào một mặt dùng làm hiệu lệnh trong các cuộc đua thuyền hay đệm cho những điệu hát.
Cồng chiêng khi đánh không đánh riêng lẻ từng chiếc mà kết hợp từ 7 – 8 chiếc với nhau tạo nên âm thanh cộng hưởng. Người đánh cồng chiêng thường đứng giữa và đánh hai dàn cùng một lúc.
Chuông nhạc gồm nhiều kích cỡ khác nhau dài từ 5 – 35cm. Chiếc chuông cỡ nhỏ dài từ 5 – 15cm có quả lắc bên trong, cỡ lớn dài từ 25 – 35cm không có quả lắc bên trong. Chuông được xâu thành từng chùm vào các vòng đồng. Khi sử dụng, đối với loại chuông có quả lắc người ta rung nhẹ theo nhịp nhảy múa, đối với chuông không có quả lắc người ta dùng dụng cụ để gõ tạo âm thanh.
Để đánh nhịp theo lời hát, người ta sử dụng một nhạc cụ gọi là sênh phách. Sênh là những ống nứa vạt nhọn một đầu, phần tay cầm có dùi thêm một lỗ nhỏ để điều chỉnh âm thanh. Khi múa, người biểu diễn cầm sênh đập vào tay hoặc vào đùi tạo ra âm thanh như tiếng ve kêu. Phách là hai thanh tre dài từ 20 – 30cm. Phách thường được sử dụng kết hợp theo các điệu múa.
Khèn cũng là một loại nhạc cụ ưa thích của người dân trong các lễ hội. Khèn thường có hai loại là khèn bầu dài và khèn bầu ngắn. Khèn được làm từ quả bầu, ống trúc hoặc lá cây. Thường người ta sử dụng khèn kết hợp với các điệu múa.
Tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán
Cư dân Văn Lang bảo lưu nhiều tín ngưỡng dân gian như việc tôn thờ các con vật như chim, thuồng luồng, cá sấu… các loài cây vật tổ; tôn sùng các hiện tượng tự nhiên như mưa gió, sấm chớp, mặt trăng, mặt trời… Tục thờ mặt trời là một tín ngưỡng cổ được thể hiện khá đậm nét trong đời sống tinh thần của cư dân Văn Lang. Mặt trời có vai trò vô cùng quan trọng đối với nghề nông. Vì vậy hình ảnh mặt trời luôn xuất hiện ở các vị trí trang trọng nhất, vị trí trung tâm của các hoạt động. Hình ngôi sao mặt trời được chạm khắc phổ biến trên mặt trống đồng, trên nắp thạp đồng. Những hình người và động vật trên mặt trống đồng dù ở các tư thế khác nhau như đi, chạy, nhảy nhưng đều diễn ra xung quanh hình mặt trời ngược chiều kim đồng hồ. Cùng với mặt trời, đất và nước đều trở thành những vị thần tôn nghiêm trong tiềm thức của cư dân Văn Lang.
Dấu ấn của cư dân nông nghiệp thể hiện khá rõ qua hình thức thờ cúng sản vật nông nghiệp dưới thời Hùng Vương. Các sản vật nông nghiệp được nhân dân thờ cúng như bánh chưng, bánh dầy.
Việc thờ cúng tổ tiên, thờ những anh hùng có công đối với cộng đồng dân cư là một nét đẹp trong tín ngưỡng dân gian của người dân Văn Lang. Theo tục truyền Thánh Gióng sau khi giúp Hùng Vương thứ 6 dẹp giặc Ân đã được dựng đền thờ ngay tại kinh đô Phong Châu để tiện cho việc thờ phụng, hương khói.
Phong tục tập quán của cư dân Văn Lang khá phong phú. Tục truyền rằng vào mùa xuân, vua Hùng thường đem các hạt kê giao cho con gái mình gọi nhân dân cùng đi gieo hạt. Nhân dân từng bừng rước vua cùng ra đồng. Đi dầu đoàn rước là những người rước lúa, rước kê. Theo sau là vua, Mị nương và nhân dân. Đoàn rước tới bến sông, vua xuống bãi lấy một chiếc que nhọn chọc lỗ để gieo hạt lúa và hạt kê xuống bãi. Sau đó vua cắm một cành tre để chim không ăn hạt vừa gieo. Mị nương cùng nhân dân đều làm theo những động tác đó của vua Hùng. Lễ hội đầu năm này phản ánh rất rõ sự coi trọng nghề nông của cư dân Văn Lang.
Hôn nhân dưới thời Hùng Vương chủ yếu là hôn nhân một vợ một chồng. Trong lễ cưới thường có tục thách cưới. Sau khi đem các lễ vật tới dạm hỏi, chú rể có thể đón dâu ngay những cũng có thể phải chờ đợi thêm thời gian để thử thách. Theo sách “Lĩnh nam chích quái”, việc hôn nhân của người Việt xưa lấy gói đất làm đầu. Gói đất có thể là một hình ảnh tượng trưng nhưng cũng có thể là một loại bánh mà người xưa dùng nguyên liệu chủ yếu là đất sét tinh để chế biến. Đất sét được gói bằng các thứ lá cỏ thơm tạo nên mùi đặc trưng riêng. Tục ở rể hầu như không còn mà thay bằng việc cô dâu về nhà chồng. Sau khi rước dâu, cô dâu lại quay về nhà mẹ trước khi ở hẳn bên nhà chồng. Cô gái có thể ở nhà cha mẹ đẻ cho tới khi sinh con đầu lòng rồi mới về sinh sống bên nhà chồng. Để chúc mừng cô dâu chú rể, những người dự đám cưới lấy bùn ném vào chàng rể. Trước khi động phòng, cô dâu và chú rể cùng ăn chung một bữa cơm.
Thời Hùng Vương có tục chôn người chết dưới huyệt hoặc hỏa táng. Người chết thường được chôn ngay tại nơi cư trú hoặc gần nơi cư trú. Xác người chết được chôn trực tiếp dưới đất trong những huyệt hình chữ nhật hoặc được đặt trong quan tài bằng thân cây khoét rỗng hình thuyền. Cư dân Văn Lang tin rằng có sự tồn tại của một thế giới khác – thế giới của người đã mất. Thế giới ấy rất gần gũi với cuộc sống hiện tại. Bởi vậy, trong các ngôi mộ cổ thuộc niên đại của nhà nước Văn Lang chúng ta bắt gặp nhiều đồ tùy táng với số lượng không giống nhau. Người ta đặt các vật dụng, của cải bên cạnh xác người chết với mong muốn người chết sẽ tiếp tục một cuộc sống mới ở thế giới khác. Khi tiến hành hỏa táng, xác người mất được đốt cùng với trang phục, đồ trang sức. Sau đó, tro xương đặt trong chum vò hoặc thạp đồng.
Cư dân Văn Lang có thói quen ăn trầu nhuộm răng đen. Trẻ con lúc mới sinh được lót lá chuối nằm. Con trai để được công nhận đã đến tuổi trưởng thành phải trải qua một cuộc thi thử thách tài năng, sức khỏe được tổ chức vào mùa thu. Vượt qua cuộc thi này, các chàng trai được xăm trên mình hình thuồng luồng hoặc rùa, gà… Giữa các làng có tục “kết chạ” nhằm tăng thêm tình đoàn kết, gắn bó trong cộng đồng dân cư.
3. Cuộc kháng chiến chống xâm lược Tần và sự thành lập nhà nước Âu Lạc.
v Cuộc kháng chiến chống xâm lược Tần
Ngay bên cạnh nhà nước Văn Lang nhỏ bé là một đất nước Trung Hoa với lãnh thổ rộng lớn. Năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng đã thống nhất Trung Hoa lập lên nước Tần. Tần Thủy Hoàng luôn nuôi tham vọng chiếm thêm được nhiều đất đai và cư dân từ các vùng lân cận. Năm 218 TCN, tướng Đồ Thư theo lệnh của Tần Thủy Hoàng chỉ huy 50 vạn quân chia làm 5 đạo tiến xuống phía Nam. Tướng Sử Lộc (vốn người gốc Việt, hiểu biết rất rõ vùng đất Lĩnh Nam – tương ứng với vùng đất Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu) phụ trách việc vận chuyển lương thực, các tuyến đường hành quân.
Sau ba năm, quân Tần mới đến được Lĩnh Nam và nhanh chóng chiếm giữ trọn vẹn khu vực này. Quận trưởng người Tây Âu khi đó là Dịch Hu Tống bị quân Tần giết chết. Người Tây Âu không chịu khuất phục, ngày trốn trong rừng núi hiểm trở, đêm tổ chức lực lượng đánh bại quân Tần. Người dân Lạc Việt phối hợp chặt chẽ với người dân Tây Âu để chống lại cuộc xâm lăng của Tần từ năm 214 TCN đến năm 208 TCN. Càng chiến đấu, quân Tần càng lâm vào tình cảnh khó khăn: đàn ông quanh năm mặc áo giáp, đàn bà suốt ngày phải chở lương khiến nhiều người phải thắt cổ tự tử dọc đường đi. Tướng Đồ Thư đã phải bỏ mạng trong một trận đánh. Khó khăn càng chồng chất khó khăn khi vào năm 208 TCN, tình hình nước Tần xảy ra nhiều biến loạn. Tần Thủy Hoàng mất, nhiều tướng nhà Tần cát cứ nhiều nơi, nông dân không chịu nổi sự cai trị hà khắc tiến hành khởi nghĩa. Tần Nhị Thế thay cha tiếp quản đất nước buộc phải ra lệnh bãi binh, rút quân khỏi lãnh thổ nước ta. Cuộc kháng chiến chống Tần hoàn toàn thắng lợi.
v Sự thành lập nhà nước Âu Lạc
Vùng rừng núi và Trung du phía Bắc nước Văn Lang là nơi sinh sống của bộ lạc người Tây Âu (hay còn gọi là người Âu Việt). Thủ lĩnh của tộc Tây Âu là Thục Phán. Cư dân Văn Lang và Tây Âu vốn có mối quan hệ hòa hảo tốt đẹp nhưng sau đó lại xảy ra nhiều xung đột. Trong bối cảnh quân Tần xâm lược, đe dọa sự tồn vong của cả người Tây Âu và Lạc Việt, vua Hùng đã nhường ngôi cho Thục Phán[9]. Thục Phán nối ngôi lấy hiệu là An Dương Vương, đặt tên nước là Âu Lạc, đóng đô ở Phong Khê.

Cổng đền Thượng nơi thờ An Dương Vương
Nước Âu Lạc ra đời vào khoảng thế kỉ III TCN. Qua các dấu tích khảo cổ học chúng ta không tìm thấy sự khác biệt lớn giữa nhà nước Văn Lang và Âu Lạc. Về cơ bản nhà nước Âu Lạc là sự kế tiếp nhà nước Văn Lang trên nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội. Phạm vi của nước Âu Lạc rộng lớn hơn so với nhà nước Văn Lang về phía tây bắc. Cách thức tổ chức bộ máy nhà nước không thay đổi so với thời các vua Hùng. Đứng đầu nhà nước là An Dương Vương. Giúp việc cho vua là các Lạc hầu, Lạc tướng.
4. Tình hình kinh tế xã hội và nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc
v Tình hình kinh tế xã hội Âu Lạc
Nước Âu Lạc tồn tại trong khoảng thời gian từ năm 208 TCN đến năm 179 TCN tiếp tục kế thừa và phát huy những thành tựu về kinh tế xã hội của nhà nước Văn Lang.
Việc chuyển trung tâm từ vùng thượng lưu sông Hồng tiến về khu vực Cổ Loa – ngay gần giữa trung tâm của đồng bằng sông Hồng đã chứng tỏ cư dân Âu Lạc dần chinh phục được các vùng đồng bằng ngập nước. Họ tiến hành mở rộng phạm vi đất đai canh tác. Đây là một tiến bộ lớn của cư dân Âu Lạc so với cư dân Văn Lang.
Điểm nổi bật về kinh tế của nhà nước Âu Lạc so với nhà nước Văn Lang thuộc về hoạt động thủ công nghiệp với nghề luyện kim. Tại di chỉ Cổ Loa, một số lượng lớn mũi tên đồng được phát hiện. Nghiên cứu về các mũi tên đồng đã cho chúng ta biết được nhiều điều thú vị. Bằng phương pháp vật lý hiện đại, các nhà khảo cổ đã đưa ra kết luận thành phần kim loại của mũi tên đồng tương tự như thành phần các trống đồng thời kì Đông Sơn. Những nguyên tố chính vẫn là đồng, chì, thiếc. Trong các mũi tên đồng còn tìm thấy nguyên tố sắt. Nguyên tố sắt giúp mũi tên cứng mạnh hơn, dễ xuyên sâu vào mục tiêu. Điều này phản ánh trình độ luyện kim của cư dân Âu Lạc có bước phát triển mới hơn so với cư dân Văn Lang. Những chiếc lẫy nỏ Cổ Loa được làm bằng hợp kim đồng, tinh vi và nhỏ bé hơn so với những chiếc nỏ tìm thấy tại các vùng đồng bào dân tộc Mường sinh sống. Mỗi lần bật chiếc lẫy chỉ phát một mũi tên. Phải chăng dưới thời An Dương Vương đã xuất hiện một lực lượng quân sự chuyên sử dụng cung nỏ và đã gây cho kẻ thù nỗi khiếp sợ?
Xã hội Âu Lạc vẫn là xã hội phụ quyền, vai trò của người đàn ông càng được nâng cao. Sự phân hóa giữa người giàu với người nghè tương đối rõ rệt hơn trước.
v Nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc
Một nền văn minh ra đời dựa trên nhiều yếu tố. Theo các tác giả trong tác phẩm “Các nền văn minh trên đất nước Việt Nam” thì có ba điều kiện cơ bản chuẩn bị cho sự ra đời của một nền văn minh: tự nhiên, kinh tế, dân cư. Trước hết, điều kiện tự nhiên phải thuận lợi cho cuộc sống ổn định của một tộc người. Đó có thể là một vùng đồng bằng ven sông phì nhiêu thích hợp cho sản xuất nông nghiệp hay những nơi có vị trí địa lý thuận lợi cho hoạt động thủ công nghiệp và trao đổi buôn bán với bên ngoài. Điều kiện kinh tế là điều kiện chủ yếu. Nền kinh tế có dấu hiệu chuyển biến và phát triển là cơ sở để con người định cư lâu dài, tổ chức quản lí mọi sinh hoạt cộng đồng dân cư. Điều kiện cuối cùng là điều kiện dân cư. Với một số lượng dân cư tương đối đông đảo, cùng chung sống hòa hợp với nhau trên một lãnh thổ nhất định, có những mối quan tâm chung và đặc biệt cùng mong muốn xây dựng một cuộc sống tốt đẹp hơn.

Lẫy nỏ Cổ Loa

Hàng ngàn mũi tên đồng được phát hiện tại Cổ Loa
Nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc hay còn gọi là văn minh sông Hồng, văn minh Việt cổ, văn minh Đông Sơn là kết tinh sau một quá trình phát triển lâu dài của các cư dân sống trên lãnh thổ nước ta. Nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc tồn tại chủ yếu trên châu thổ các con sông lớn: sông Hồng, sông Mã, sông Cả.
Sự ra đời và phát triển của nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc gắn liền với sự ra đời và phát triển của nhà nước Văn Lang – Âu Lạc. Các nền văn hóa như Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun mà đặc biệt là Đông Sơn đã chuẩn bị những cơ sở quan trọng cho sự ra đời của nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc. Nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc mang tính bản địa sâu sắc. Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, sự chuyển biến về kinh tế xã hội đã đưa những cư dân sinh sống trên vùng châu thổ sông Hồng, sông Mã, sông Cả bước vào một giai đoạn phát triển cao hơn. Thế kỉ VII – VI TCN đánh dấu sự ra đời của nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc. Nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc đạt được một số thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa. Nhà nước Văn Lang – Âu Lạc tuy tổ chức còn sơ giản nhưng là một biểu hiện rõ ràng nhất của một xã hội khi tiến vào thời kỳ văn minh – cộng đồng dân cư đã sống tập trung và chịu sự quản lý của một tổ chức xã hội nhất định. Cơ sở kinh tế chính của nền văn minh này là nền nông nghiệp trồng lúa nước. Thủ công nghiệp với nghề luyện kim phát triển ở một trình độ cao. Quan sát những họa tiết trang trí, hoa văn trên các hiện vật thuộc thời kỳ Văn Lang – Âu Lạc chúng ta thấy rõ tư duy khoa học và khiếu thẩm mỹ của người xưa. Những hình vẽ, hoa văn được bố trí cân xứng đã phản ánh phần nào tư duy hình học và số học của cư dân Văn Lang – Âu Lạc. Trống đồng và thành Cổ Loa được xem là hai hiện vật tiêu biểu nhất cho nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc.
Nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc là nền văn minh đầu tiên trên đất nước ta. Chính trong nền văn minh này, những giá trị văn hóa tinh thần mang bản sắc dân tộc Việt Nam đã bước đầu hình thành. Sức sống bền bỉ của nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc đã được minh chứng ngay trong thời kì 1.000 năm dân tộc ta bị phong kiến phương Bắc đô hộ. Người Việt có thể bị mất nước nhưng những giá trị văn hóa truyền thống không dễ dàng bị mai một. Những giá trị đó trở thành ngọn lửa đốt cháy khát vọng, thôi thúc nhân dân đấu tranh giành lại nền độc lập cho nước nhà. Kỳ diệu thay, sau 1.000 năm Bắc thuộc, nền văn minh Văn Lang – Âu Lạc tiếp tục truyền sức sống, đặt cơ sở để các nền văn minh kếp tiếp sau ra đời và phát triển ở một trình độ cao hơn.
5. Thành Cổ Loa và kháng chiến chống Triệu Đà
Ngay sau khi chiến thắng quân Tần, An Dương Vương đã nghĩ ngay tới việc xây dựng một hệ thống thành lũy để đảm bảo an ninh đất nước. Tướng Cao Lỗ đã được An Dương Vương giao việc phụ trách xây thành. Thành được xây dựng ở vị trí trung tâm đất nước, trên đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng, nơi giao lưu quan trọng của đường thủy và đường bộ. Theo truyền thuyết, việc xây thành đã gặp rất nhiều khó khăn. Thành đã xây nhiều lần nhưng lại sụp đổ. Năm 255 TCN vào “Mùa xuân, tháng 3, bỗng có thần nhân đến cửa thành, trỏ vào thành cười mà nói rằng: Đắp đến bao giờ cho xong! Vua mời vào điện hỏi. Thần nhân trả lời rằng: Đợi giang sứ đến sẽ biết. Rồi từ biệt đi ngay. Sáng hôm sau Vua ra cửa thành, thấy có rùa vàng từ phía Đông bơi trên sông mà đến, xưng là Giang sứ, nói được tiếng người, bàn được việc tương lai. Vua mừng lắm, để vào mâm vàng, đặt lên trên điện. Vua hỏi về duyên do thành sụp. Rùa vàng trả lời rằng: Con vua trước phụ vào tinh khí núi sông của đất này để báo thù nước, nấp ở núi Thất Diệu. Trong núi ấy có ma là con hát đời trước chết chôn ở đấy. Cạnh núi có cái quán, chủ quán tên là Ngộ Không, có một người con gái và một con gà trắng là dư khí của tinh, phàm người qua lại mà ngủ đêm ở đấy thì tất chết, là do ma làm hại. Chúng có thể rủ nhau họp thành đàn lũ, làm sụp đổ thành. Nếu giết con gà trắng để trừ tinh khí ấy đi, thì thành tự nhiên đắp xong được và bền vững. Vua đem rùa vàng đến quán ấy, giả làm người ngủ nhờ. Chủ quán nói: Ông là quí nhân, xin đi ngay, chớ lưu lại đây mà bị họa. Vua cười nói: Sống chết có mệnh, ma quỷ làm gì nổi. Rồi ngủ lại quán. Đến đêm nghe ma từ ngoài đến gọi mở cửa. Rùa vàng thét mắng, ma không vào được. Đến gà gáy thì lũ ma chạy tan. Rùa vàng xin Vua đuổi theo. Đến núi Thất Diệu thì tinh khí biến đi hết. Vua trở về quán. Đến sáng sớm, ông chủ quán cho là vua tất chết, sai người đến quán để nhặt xác đem chôn. Thấy vua vẫn cười nói như thương, mới sụp lạy rồi nói: Ông được yên lành như thế tất là thánh nhân. Vua xin con gà trắng giết để tế. Con gà chết thì con gái chủ quán cũng chết. Vua sai người đào núi lên, thấy có nhạc khí cổ và xương người, đem đốt tán thành tro, ném xuống sông, yêu khí mất hẳn. Từ đấy, đắp thành không quá nửa tháng thì xong”[10].
Truyền thuyết vẫn chỉ là truyền thuyết. Khi nhìn những dấu vết của thành Cổ Loa ngày nay chúng ta phải thừa nhận rằng công trình này đòi hỏi sự nỗ lực cố gắng của một số lượng lớn nhân công xây dựng trong một thời gian dài. Thành được đắp chủ yếu bằng đất vì khi đó chưa có gạch nung. Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu lũy xây đến đó. Dưới chân thành được chèn một lớp đá tảng nhằm củng cố sự vững chắc của thành. Thành được kết cấu theo kiểu mặt ngoài lũy thẳng đứng, mặt trong thoải. Lũy cao trung bình từ 4 – 5m. Khối lượng đất đào được ước tính đến 2,3 triệu m3. Thành có hình xoáy trôn ốc. Chu vi ngoài của thành dài là 8km; vòng giữa 6,5km. Thành Cổ Loa bao gồm 3 vòng thành chính khép kín. Thành nội có hình chữ nhật, cao trung bình 5m, mặt thành rộng 6 – 12m, chân rộng từ 20 – 30m, chu vi là 1.650m. Thành nội chỉ có 1 cửa thành. Trên mặt thành có 18 ụ đất cao hơn để làm vọng gác. Vòng thành giữa (thành trung) là một vòng thành không có khuôn hình cân xứng. Thành trung dài 6.500m, điểm cao nhất là 10m, mặt thành rộng trung bình 10m và có tới 5 cửa theo các hướng đông, nam, bắc, tây bắc và tây nam. Thành ngoại (vòng thành ngoài cùng) dài 8.000m, cao trung bình 3 – 4m, chân thành rộng 12 – 20m, có ba cửa ra vào. Cả ba vòng thành đều có hào ở phía ngoài nối liền với nhau và nối với sông Hoàng để tăng thêm sự hiểm yếu của thành Cổ Loa. Sông Hoàng là hào thiên nhiên cho thành ngoài ở về phía tây nam và nam. Thuyền bè có thể đi lại dễ dàng trên ba vòng hào, có thể trú đậu ở Đầm Cả hoặc ra sông Hoàng. Giữa các vòng thành đều có hệ thống các lũy và ụ đất.

Sơ đồ thành Cổ Loa
Kiến trúc của thành Cổ Loa có ý nghĩa rất lớn tăng cường khả năng phòng thủ của nhà nước Âu Lạc. Với bức tường thành kiên cố, hệ thống hào lũy, các ụ đất, thành Cổ Loa trở thành một căn cứ phòng thủ, là nơi kết hợp hài hòa giữa thủy binh và kỵ binh khi tác chiến. Thành Cổ Loa được đánh giá là tòa thành cổ nhất, có cấu trúc độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của chúng ta. Thành Cổ Loa còn thể hiện sức sáng tạo tuyệt vời của cư dân Âu Lạc.
v Cuộc kháng chiến chống Triệu Đà
Triệu Đà người huyện Chân Định, Phiên Ngung (nay là tỉnh Quảng Đông). Năm 214 TCN, khi nhà Tần đem quân đánh xuố
Nguyễn Hải @ 14:32 24/01/2011
Số lượt xem: 4555
- Các vua Hùng (24/01/11)
Các ý kiến mới nhất