Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng lịch sử (938)
Ngô Quyền và chiến thắng Bạch Đằng lịch sử (938)
Ngô Quyền sinh năm 897, tại đất Đường Lâm (nay thuộc huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây) trong một gia đình quí tộc người Việt. Cha Ngô Quyền là Ngô Mân, làm chức Châu mục châu Đường Lâm dưới thời thuộc Đường (Trung Quốc). Khi mới chào đời, Ngô Quyền đã có dung mạo khác thường, mang thần tướng của một bậc hào kiệt. Sử cũ miêu tả: “Khi vua (tức Ngô Quyền – T.G chú) mới chào đời, trong nhà vua bỗng có ánh sáng lại tràn ngập. Vua có dung mạo khác thường, người có ba nốt ruồi. Các thầy tướng cho là lạ, rằng có thể làm chủ cả một phương, nên mới đặt cho tên húy là Quyền. Khi vua lớn lên, tướng mạo khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi thong thả như hổ, trí dũng hơn người, sức có thể nâng được vạc”.
Vốn sẵn có tư chất hơn người lại được học tinh thông võ nghệ binh pháp, lớn lên Ngô Quyền sớm trở thành một dũng tướng dưới trướng của Dương Đình Nghệ - người kế tục sự nghiệp dựng nền tự chủ của họ Khúc. Ngô Quyền được Dương Đình Nghệ yêu mến gả con gái cho và giao quyền quản lí đất Ái Châu (nay thuộc Thanh Hoá).
Mùa xuân, tháng ba năm 937, Dương Đình Nghệ - bấy giờ là tiết độ sứ bị viên thuộc tướng là Kiều Công Tiễn giết hại để thoán đoạt quyền vị. Tháng 10 năm 938, Ngô Quyền, vừa là tướng, vừa là con rể của Dương Đình Nghệ mang quân từ Ái Châu ra thành Đại La nhằm trị tội Kiều Công Tiễn. Với bản chất hèn nhát, bán nước, Kiều Công Tiễn đã sai sứ sang đút lót nhà Nam Hán (một nước mới nổi lên ở vùng Quảng Châu - Trung Quốc từ cục diện “ngũ đại thập quốc” (907 - 960). Vua Nam Hán là Lưu Cung muốn nhân nước ta có loạn mà xâm chiếm, bèn sai con là Vạn Thắng Vương Hoằng Thao lĩnh chức Tĩnh hải quân Tiết độ sứ kéo quân sang đánh nước ta. Bản thân vua Nam Hán cũng đích thân làm tướng, đóng quân ở Hải Môn - Trung Quốc để sẵn sàng yểm trợ cho quân của Hoằng Thao. Trước khi xuất quân, vua Nam Hán đã hỏi kế của quan Sùng văn sứ là Tiêu Ích. Tiêu Ích nói: “Nay trời mưa dầm dề đã mấy tuần, đường biển thì xa xôi và nguy hiểm… Ngô Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể khinh xuất được. Đạo quân phải nên thận trọng chắc chắn, dùng nhiều người hướng đạo rồi sau mới nên tiến”. Song, vì muốn nhanh chóng thoả mãn tham vọng bành trướng của mình nên vua Nam Hán vẫn quyết định xuất quân.
Đứng trước nguy cơ nổi phản, ngoại xâm, nền độc lập tự chủ của dân tộc mà họ Khúc, họ Dương mới gây dựng lại bị đe doạ nghiêm trọng. Vận mệnh đất nước đòi hỏi phải có người có đủ tài đức đứng ra tập hợp, đoàn kết nhân dân chống thù trong giặc ngoài. Ngô Quyền chính là người có đủ phẩm chất để đáp ứng yêu cầu đó của lịch sử.
Giương cao lá cờ vì đại nghĩa, Ngô Quyền đã tập hợp đông đảo lực lượng nhân dân, gồm các hào trưởng từ nhiều vùng như Kiều Công Hãn (Nam Định), Đỗ Cảnh Hạc (Hà Tây), Lã Minh (Bắc Ninh), Phạm Bạch Hổ (Hưng Yên)… với lực lượng lớn mạnh như vậy, Ngô Quyền nhanh chóng bắt sống và diệt trừ tên phản nghịch Kiều Công Tiễn, phá vỡ kế nội ứng của kẻ thù. Sau đó, ông nhanh chóng bắt tay vào công cuộc chuẩn bị kháng chiến. Nghe tin Hoằng Thao đang hùng hổ đem nhiều chiến thuyền theo sông Bạch Đằng tiến vào nước ta. Ngô Quyền bình tĩnh phân tích thế mạnh yếu của ta và địch mà nói: “Hoằng Thao là đứa trẻ khờ dại, đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt lại nghe tin Kiều Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng đã mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân mỏi mệt, tất phá được”.Ngược lại, ông cũng thận trọng nhận định: “Song chúng có lợi ở thuyền, nếu ta không phòng bị trước thì chuyện được thua cũng chưa biết được”. Như vậy, Ngô Quyền tỏ ra là một nhà quân sự tài ba khi ông rất am hiểu nguyên lý “tri bỉ tri kỉ, bách chiến bách thắng” (biết người biết mình, trăm trận trăm thắng) của binh pháp. Từ sự phân tích đó, Ngô Quyền định ra kế hoạch tác chiến: “Nay nếu ta sai người đem cọc lớn vạt nhọn, đầu thì bịt sắt, ngầm đóng xuống trước ở cửa biển, dụ cho thuyền của chúng theo nước triều lên mà vào phía trong của hàng cọc thì ta hoàn toàn có thể chế ngự chúng, quyết không cho chiếc nào tẩu thoát”. Địa điểm được Ngô Quyền chọn làm nơi quyết chiến với kẻ thù là sông Bạch Đằng.
Sông Bạch Đằng (nay thuộc địa phận huyện Thuỷ Nguyên - Hải Phòng) nằm ở phía Đông Bắc biển Đông nước ta. Sông rộng hơn hai dặm, ở đó có núi cao ngất, nhiều nhánh sông đổ lại, sóng cồn man mác giáp tận chân trời, cây cối um tùm che lấp bờ bến”.
Bạch Đằng là cửa ngõ phía đông bắc và là đường giao thông quan trọng từ Biển Đông nội địa Việt Nam. Cửa biển Bạch Đằng to rộng, rút nước từ vùng đồng bằng Bắc Bộ đổ ra Vịnh Hạ Long. Lưu vực sông Bạch Đằng, độ dốc không cao nên chịu ảnh hưởng của thủy triều khá mạnh. Lúc triều dâng, nước trải đôi bờ đến vài cây số. Lòng sông đã rộng, lại sâu, từ 8m - 18m. Triều lên xuống vào độ nước cường, nước rút đến hơn 30cm trong một giờ, ào ào xuôi ra biển, mực nước chênh lệch khi cao nhất và thấp nhất khoảng 2,5 - 3,2m.
Nắm vững địa thế ấy, Ngô Quyền sai người dựng trận địa cọc giữa lòng sông Bạch Đằng. Để làm được điều ấy, ông huy động nhân dân chọn đẵn loại gỗ cứng, đảm bảo đúng kích cỡ từ trên rừng rồi vát nhọn đầu, bịt sắt, ngầm đóng xuống lòng cửa sông. Ngô Quyền cũng cho quân mai phục hai bên bờ sông để sẵn sàng đánh địch.
Tháng Chạp năm Mậu Tuất (938), đoàn thuyền của Hoằng Thao từ Quảng Đông – Trung Quốc vượt biển tiến vào nước ta. Ngô Quyền sai Nguyễn Văn Tố (người làng Gia Viên) chỉ huy lực lượng thủy binh tinh nhuệ dùng thuyền nhẹ ra khiêu chiến. Quân ta chủ trương đánh tiêu hao giam chân địch, rồi đợi đến khi nước triều dâng cao thì giả thua để dụ địch đuổi theo. Với bản tính hiếu thắng, kinh địch, Hoằng Thao quả nhiên đã trúng kế. Hắn thúc quân truy kích, tiến sâu vào cửa sông Bạch Đằng mà không biết rằng mình đã lọt sâu vào trận địa mai phục của quân ta.

Sơ đồ chiến thắng Bạch Đằng năm 938
Đúng như tính toán của Ngô Quyền, khi đoàn thuyền của Hoằng Thao vượt qua bãi cọc ngầm cũng là lúc nước triều bắt đầu rút xuống. Đoàn thuyền nhẹ của ta đứng đầu là Nguyễn Văn Tố được lệnh phản công. Cùng lúc đó, quân mai phục ở hai bên tả ngạn sông và quân chủ lực từ phía thượng lưu đồng loạt xông ra đánh địch.
Bị chặn đầu và đánh tạt sườn, quân Nam Hán rơi vào thế bao vây gọng kìm từ ba phía của ta. Hoằng Thao chỉ còn đường tháo chạy ra biển. Nhưng lúc này nước triều đã rút, bãi cọc ngầm dưới lòng sông Bạch Đằng nhô cao. Vừa bị tấn công, vừa bị mắc kẹt trong bãi cọc ngầm, quân Nam Hán rối loạn. Chiến thuyền của giặc hoặc xô vào cọc nhọn, hoặc xô vào nhau mà bị lật úp, binh sĩ chết đến quá nửa. Ngô Quyền thừa thắng đuổi đánh, bắt được Hoằng Thao giết đi. Vua Nam Hán nghe tin đó vừa đau đớn, vừa bàng hoàng “thương khóc, thu nhặt tàn quân còn sót rút về”.

Chiến thắng Bạch Đằng năm 938
Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nam Hán do Ngô Quyền lãnh đạo đã thắng lợi hoàn toàn. Đây là trận thuỷ chiến đầu tiên và là một trong những trận quyết chiến chiến lược lớn nhất trong lịch sử chống xâm lược phương Bắc của quân dân ta.
Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 có một ý nghĩa lịch sử to lớn. Nó chấm dứt hoàn toàn thời kì hơn một nghìn năm Bắc thuộc của phong kiến phương Bắc, mở ra một trang mới trong lịch sử đất nước: Thời kì độc lập tự chủ lâu dài của dân tộc. Thời kì tụ chủ của đất nước kéo dài 33 năm (905 - 938), mở đầu bằng việc chớp thời cơ, giành chủ quyền bằng phương pháp hoà bình và chính sách ngoại giao khôn khéo của họ Khúc. Đây là giai đoạn phát triển từ tự chủ chuyển sang độc lập hoàn toàn mà chiến thắng Bạch Đằng là mốc lịch sử quan trọng ấy. Có được thắng lợi vẻ vang đó là nhờ ở công sức và sự đoàn kết của quân dân ta, những yếu tố quan trọng hàng đầu là nhờ ý chí quyết tâm và tài năng của Ngô Quyền.
Sau chiến thắng Bạch Đằng, năm 939, Ngô Quyền chính thức xưng Vương, đóng đô ở Cổ Loa – kinh đô cũ của nhà nước Âu Lạc dưới thời An Dương Vương. Thành Cổ Loa sau hơn ngàn năm hoang phế được Ngô Vương dựng lại thành kinh đô thiêng liêng của đất nước. Nhờ sự tái lập kinh đô hồi giữa thế kỉ X, thành ốc được tu sửa củng cố nên ngày nay sau 1.200 năm trên đất Cổ Loa, Hà Nội vẫn còn thấy rõ dấu tích đồ sộ của kinh thành xưa”. Bên cạnh đó, Ngô Quyền còn chăm lo, chỉnh đốn chiều phục, lập bộ máy chính quyền gồm hai bên văn võ, xóa bỏ những luật lệ hà khắc của các chính quyền đô hộ cũ. Những việc làm của Ngô Quyền đã tỏ rõ ý thức khẳng định nước ta là một quốc gia độc lập, có chính thống. Về điều này, sử gia Ngô Sỹ Liên có bình luận: “Tiền Ngô Vương nổi lên không chỉ có công chiến thắng mà thôi, việc đạt toàn quan, chế định triều nghi, phẩm phục, có thể thấy được qui mô của bậc đế vương”.
Năm 944, Ngô Quyền qua đời, hưởng thọ 47 tuổi. Sự nghiệp của nhà Ngô trải đến đời thứ hai là Ngô Xương Ngập và Ngô Xương Văn thì mất. Đất nước rơi vào cục diện loạn 12 sứ quân.
Tuy sự nghiệp của nhà Ngô ngắn ngủi nhưng Ngô Quyền vẫn được biết đến trong lịch sử nước ta là một anh hùng dân tộc trong sự nghiệp dựng nước và và giữ nước. Đánh giá tổng quát về danh nhân Ngô Quyền xin được mượn lời bàn của Lê Văn Hưu trong Đại Việt sử ký toàn thư: “Tiền Ngô Vương (chỉ Ngô Quyền – TG chú) có thể lấy quân mới họp của đất Việt ta mà phá được trăm vạn quân của Lưu Hoằng Tháo, mở nước xưng vương, làm cho người phương Bắc không dám lại sang nữa. Có thể nói là một cơn giận mà yên được dân, mưu giỏi mà đánh cũng giỏi vậy. Tuy chỉ xưng vương, chưa lên ngôi đế, đổi niên hiệu, nhưng chính thống của nước Việt ta, ngõ hầu đã nối lại được”.
Nguyễn Hải @ 14:46 24/01/2011
Số lượt xem: 1652
- Nhà nước Lâm Ấp – Chăm Pa (24/01/11)
- Vương quốc Phù Nam (24/01/11)
Các ý kiến mới nhất