Đà Lạt
Địa danh ''Đà Lạt'' là sự kết hợp của từ ''Đà'' bắt nguồn từ từ ''Đak'', nghĩa là ''nước'' hoặc ''hồ'' theo tiếng địa phương; và từ ''Lát'' (Lách), tên của một bộ tộc thiểu số thuộc dân tộc Cơ Ho. Vì vậy, ''Đà Lạt'' có nghĩa là nước của bộ tộc Lách. Đà Lạt đẹp khiến Đà Lạt trở thành một địa điểm nổi tiếng đối với khách du lịch. Những năm gần đây thành phố tràn ngập du khách vì sự ưa thích quốc tế đối với du lịch sinh thái. Hiện nay, Đà Lạt là một trong mười điểm đến của khách du lịch tại Việt Nam. Cả khách du lịch và cư dân nơi đây đều thích trèo lên núi Lang Bian ở phía Bắc của thành phố và đi dạo trên những nẻo đường bao quanh thành phố.

Bác sĩ đồng thời là nhà thám hiểm Alexandre Yersin (1863-1943) đã xây dựng khu nghỉ mát kiểu Pháp ở Đà Lạt năm l895 vì theo ông, Cao nguyên Lang Bian là nơi lý tưởng để dưỡng bệnh. Từ đó, thành phố với địa hình gồ ghề bao quanh đã thu hút được rất nhiều du khách trong nước và quốc tế. Đà Lạt ở độ cao 1.500m so với mực nước biển, cách thành phố Hồ Chí Minh 300km về phía bắc, và cách bờ biển 110km từ đất liền.
Đà Lạt còn được người ta gọi là “Thành phố của Mùa xuân bất tử'' vì nhiệt độ trung bình hàng ngày chỉ dao động từ 150C đến 240C và luôn có nắng. Mùa mưa là từ tháng 4 đến tháng 11, lượng mưa trung bình hàng năm là 1.755m; còn mùa khô là từ tháng 12 đến tháng 3. Khí hậu ở đây rất thuận lợi cho việc trồng hoa quanh năm, do đó Đà Lạt còn được gọi là ''Thành phố của các loài hoa”. Một làn sương mỏng tuôn bao phủ núi đồi và làm mầu mỡ những cánh đồng đưa thung lũng bao quanh Đà Lạt. Những người trồng rau Đà Lạt chuyên chở rau quả của mình tới khắp mọi nơi ở Việt Nam: Trên thực tế con đường nối Đà Lạt với thành phố Hồ Chí Minh đã được mệnh danh là ''Tuyến đường rau quả''.
Đà Lạt là nơi có nhiều người dân tộc thiểu số lẫn dân tộc Kinh (Người Việt) đến sinh sống. Đây là một trong số ít nơi của Việt Nam mà người dân có thể mặc áo ấm quanh năm. Các cô gái trẻ thì nổi tiếng với đôi má ửng hồng. Trung tâm thành phố có nhiều điểm hấp dẫn du khách. Họ có thể tham quan các khu trường đại học, nhà thờ và nhà ga xe lửa theo kiểu Pháp. Viện Bảo tàng Tổng hợp trưng bày rất nhiều đồ tác tạo của người bản xứ và nhiều hiện vật có ý nghĩa lịch sử của địa phương.
Du khách tới Đà Lạt cũng được xem nhiều lâu đài do các thống sứ Pháp và các vua Việt Nam xây dựng, trong đó có một lâu đài được xây dựng bởi Bảo Đại, vị vua cuối cùng của Việt Nam. Đà Lạt cũng có ít nhất l0 ngôi chùa cổ, nổi tiếng nhất là chùa Linh Sơn, Linh Phong, Linh quang, Thiên Vương Cố Sát và Thiền viện Trúc Lâm. Đà Lạt còn có một trong các sân gôn lâu đời nhất ở Việt Nam, nằm trên khu đất đồi gần Hồ Xuân Hương. Sân gôn này đã dược nâng cấp đạt tiêu chuẩn quốc tế với 18 lỗ.
Dọc các khu phố, trong các chợ và trong các công viên và vườn ươm của thành phố, du khách sẽ thấy sự đa dạng của các loài hoa, nhiều loài thuộc loại quý hiếm. Công nghiệp làm vườn ở Đà Lạt rất phát triển; hoa Đà Lạt được khắp nơi trên đất nước ưa chuộng và đặc biệt được ưa thích tại thành phố Hồ Chí Minh. Vườn hoa cổ nhất của Đà Lạt ở gần trường đại học Đà Lạt và Hồ Xuân Hương, tại số 2 phố Phù Đổng Thiên Vương được xây dựng năm 1966 và mở cửa cho công chúng vào năm 1985, khu vườn này trưng bày một bộ sưu tập lớn gồm hơn 300 loài hoa gồm các loài hoa địa phương cũng như các loài hoa được du nhập từ khắp nơi trên thế giới. Trong vườn có hoa hồng, hoa cúc, hoa lay ơn, hoa phong lan, và mimôsa có hoa quanh năm.
Đà Lạt là nơi tập trung nhiều nhất các loài hoa ở Việt Nam như hoa đào tía, hoa cúc Nhật tím, hoa cúc vàng, hoa dâm bụt Trung quốc đỏ, hoa nhài, các loài hoa phong lan nở vào đêm và hoa loa kèn trắng. Những người trồng hoa đã nhập nhiều loài hoa hồng như hoa Rosa Lutea (được trồng ở Trung Đông rồi ở Trung quốc) và hoa Rosa Indicafragans (nhập từ Châu Âu). Nhiều loài hoa hồng mới được đặt tên theo các nhân vật nổi tiếng như hoa Brigitte (theo Brigitte Bardot, nữ diễn viên điện ảnh nổi tiếng người Pháp), hoa John F. Kennedy và Grace de Monaco, ngoài những loài hoa có sẵn ở địa phương. Một toại hoa độc đáo ở Đà Lạt có tên là Salem. Năm 1960, một Việt kiều sống tại Bỉ đã mang loài hoa có hình giống các cái chuông với cánh màu trắng, hồng và tím về nước. Những người yêu hoa hồng khắp đất nước cũng đánh giá cao loài hoa này vì nó dễ vận chuyển.
Có khoảng 20 loài hoa cúc nở rộ quanh năm. Một trong số các loài cúc nổi tiếng nhất là Sans-souci (nghĩa là Vô tư), ngoài ra còn có hoa păng-xê, Vi-o-lét, cúc vạn thọ. Rất nhiều loài hoa có nguồn gốc từ Bắc Mỹ, Mê-hi-cô, châu Mỹ La Tinh, Châu Phi và Châu Âu nay được đặt tên tiếng Việt như Hoàng Anh, Thược dược, Thu hải đường, Dạ hợp, Mõm Sói, Lồng Đèn, Phong lữ, Xác pháo, Sen đá và Sen cạn.

Đà lạt có một loài hoa anh đào độc đáo thường nở vào dịp Tết Nguyên đán. Loài cây anh đào lá rụng sớm này có thể mọc tươi tốt trong khí hậu ôn đới của Đà Lạt. Giống cây này rụng lá vào mùa thu và trơ trụi lá trong suốt mùa đông. Đầu thế kỷ 20, loại cây này đã được trồng ở Đà Lạt. Loài hoa này khác hoa anh đào Nhật Bản, giống hoa không thể phát triển ở khí hậu của Đà Lạt.
Đà Lạt có hơn 200 loài hoa phong lan, trong đó có 5 loài bản xứ mới được phát hiện. Năm loài này có tên là ''Đà Lạt'' hoặc “Lang Bian'' như Dendrobium dalatense, Oberonic dalatensif, Eria dalatensis, Dendrobium langbianense, and Oberonta langbianesis. Nhu cầu về những loài hoa này cũng nhiều như loài được ưa thích nhập từ nước ngoài về và được trồng tại địa phương như hoa Balkis, Sayonara, Chateau, and Oriental Legend. Những người trồng hoa bán các loại phong lan ở cả trong nước và nước ngoài. Phong lan ở Đà Lạt sống tự nhiên trên các cánh đồng, ngược lại, ở châu Âu, phong lan được trồng trong các nhà kính với nhiệt độ thông gió và hệ thống ánh sáng đặc biệt.
Có những chuyến bay tới Đà Lạt từ thành phố Hồ Chí Minh (mất khoảng 35 phút) và từ Hà Nội (1 tiếng 40 phút). Nếu đi bằng ô tô từ thành phố Hồ Chí Minh lên Đà Lạt thì có thể đi theo hai con đường quốc lộ 20 là chuyến đi dài 300km qua huyện Bao Lộc xanh tươi của tỉnh Lâm Đồng. Hoặc có thể đi theo quốc lộ 1 tới Phan Rang sau đó đi tiếp theo đường số 27, qua một khu vực có những tháp lịch sử do người dân tộc Chăm xây dựng, qua nhà máy thuỷ điện Đa Nhim và vượt qua đèo Ngoạn Mục tuyệt vời để ngắm nhìn vẻ đẹp ngoạn mục của Đà Lạt và những rừng thông bao quanh thành phố.
Hồ Xuân Hương: Hồ Xuân Hương là một trong những thắng cảnh nổi tiếng nhất của thành phố. Hồ rộng 5km2 với hình dáng mảnh trăng lưỡi liềm. Mặt nước trong xanh và những đại lộ chung quanh hai bên có trồng cây làm cho công viên trở thành nơi hẹn hò ưa thích của những cặp tình nhân. Câu cá là môn giải trí được ưa thích cũng như đi thuyền đạp nước và thư giãn với một món đồ uống hay một bữa ăn ngon trong một trong những quán cà phê và nhà hàng chung quanh hồ.
Hồ Than Thở: Hồ Than Thở nằm giữa hai đồi thông về phía đông và chỉ cách trung tâm thành phố 6 km. Truyền thuyết địa phương kể rằng, cây cối quanh hồ vẫn thì thầm chứng kiến câu chuyện về bi kịch tình yêu của một đôi tình nhân đã tự tử chính tại nơi này để được bên nhau mãi mãi. Làn gió nhẹ thổi ngang mặt hồ mang theo tiếng nức nở của đôi tình nhân: Du khách vẫn còn thấy ngôi mộ biểu trưng cho mối tình vĩnh cửu của họ. Đồi thông Hai Mộ nằm cạnh hồ Than Thở cũng nổi tiếng vì những sự tưởng tượng phong phú và là nơi lãng mạn để nghỉ ngơi.
Hồ Tuyền Lâm: Hồ này ở gần thác nước Datanla nổi tiếng và được tạo thành nhờ nguồn nước từ suối Tía và khúc trên của sông Đạ Tam trên núi Voi. Hồ là nơi câu cá và bơi thuyền được ưa thích. Không rõ tự bao giờ và vì sao hồ lại có tên này, có thể vì môi trường rừng nơi đây. Nước hồ, những hàng thông và ngôi chùa bên hồ tạo thành một bầu không khí thích hợp với những tâm hồn cô đơn.
Chính phủ bắt đầu xây dựng một con đập tại đây vào năm l982 để đảm bảo đủ nước tưới cho hàng trăm héc-ta ruộng lúa ở huyện Đức Trọng, và công việc xây dựng đã hoàn thành vào năm l987. Kể từ đó, hồ Tuyền Lâm trở thành điểm du lịch nổi tiếng thu hút du khách tới Đà Lạt. Một chuyến đi bằng tàu sẽ giúp du khách ngắm nhìn cận cảnh những đồi thông ở chung quanh. Nhiều loài động vật có nguy cơ bị tuyệt chủng đang cư trú trong những khu rừng thông. Nhiều địa điểm du lịch hấp dẫn nằm rải rác trên bờ hồ bao gồm khu săn bắn của Bảo Đại (vị vua cuối cùng của Triều đại nhà Nguyễn), Thác Bảo Đại, một bãi nuôi trâu và khu săn bắn của người Lạt - một nhóm người dân tộc thiểu số. Một tu viện Thiền nằm trên ngọn đồi ở phía bắc của hồ.
Hồ Đa Nhim: nằm ở phía đông và cách Đà Lạt khoảng 40km trên đường đi Phan Rang. Một chuyến đi thăm phong cảnh ngoạn mục của hồ này thật cũng bõ công vì hồ nằm trong một núi lửa không hoạt động. Sau khi trèo lên ngọn núi lửa du khách sẽ thấy được bức tranh toàn cảnh của những núi đồi và thung lũng chung quanh.
Hồ Đa Thiện: Hồ nằm trong Thung lũng Tình Yêu, với ngọn núi Lang Bian hùng vĩ làm nền, là nơi hẹn hò yêu thích của các cặp tình nhân.
Hồ Lắc: Theo ngôn ngữ dân tộc thiểu số Ê - đê từ ''Lắc'' có nghĩa là ''Hồ của tỉnh Đắk Lắk''. Chuyến đi dài 1km từ Đà Lạt tới hồ này đi xuyên qua đãy núi Trường Sơn đẹp như tranh và ngang qua những ngôi làng của người dân tộc thiểu số M’Nông, Ê-Đê, Chu-ru, và Cơ Ho.
Thác Prenn: Thác này cách Đà Lạt 10km, nằm ngay dưới chân đèo Prenn và nổi tiếng với làn nước trắng xoá như một tấm màn bằng vải sa-tanh trắng rủ xuống chân cầu ở phía sau các ngọn thác. Bao quanh thác là các cánh rừng thông và các loài hoa dại. Thác Pon Gour: Rất nhiều người cho rằng thác nằm ở phía nam và cách Đà Lạt 50km này là một trong những thác hùng vĩ nhất ở Đông Dương. Dù chỉ ở độ cao 40m, thác vẫn cung cấp một lượng nước lớn và mang ý nghĩa tín ngưỡng đối với các người dân tộc thiểu số địa phương. Vào dịp hội hè ngày tết, họ lũ lượt kéo nhau đến đây để cầu khấn cho một năm mới nhiều may mắn.
Thác Ankroet: nằm ở phía bắc và cách Đà Lạt 15km, gần đó là hồ Dankia, có thể là một chuyến dã ngoại hấp dẫn đối với du khách. Con đường tới thác đi quanh những xóm làng và trang trại trồng rau của người dân tộc thiểu số
Thác Datanla: Nằm dưới chân đèo Prenn, gần quốc lộ 20, ở phía nam và cách trung tâm thành phố Đà Lạt 10km. Cách dễ nhất để tới đó là đi xe ôm. Thác nằm trong một thung lũng gần hồ Tuyền Lâm. Ở độ cao 20m và không dốc đứng như hai thác Prenn và Pon Gour, thác Dantala chỉ thoai thoải và đổ nhẹ nhàng nhưng lòng thác thì sâu. Sau khoảng 10 hoặc 15 phút đi bộ (chừng 300m), từ đèo tới thác khách cuốc bộ sẽ gặp một lối đi khác theo một dốc dài. Thanh niên trẻ trung thích nhảy từ tảng đá này sang tảng đá khác và len lỏi qua những bụi cây.
Nhà nghiên cứu người Việt Nam, ông Nguyễn Diệp nói rằng cát tên ''Datanla'' xuất phát từ cụm từ ''Đạ Tàm Nha'' của dân tộc Cơ Ho, có nghĩa là ''nước bên dưới đá'' và được phát âm chệch đi thành ''Datanla''. Hai bên bờ của con suối chảy vào thác Dantala đã từng là nơi căn cứ và nơi ẩn nấp của người Lạt khi họ chống lại bọn xâm lược người Chăm. Sau cùng, người Lạch đã đánh đuổi quân xâm lược. Từ đó, Datanla trở thành một căn cứ kháng chiến của địa phương mỗi khi có các nhóm người ngoại bang đến xâm lược.
Phong cảnh ở Datanla hoang dã và quyến rũ. Người ta nói rằng những nữ thần từ thiên đình đã từng tắm ở đây, vì thế mà có tên là ''Suối Tiên'' hay ''Suối Nữ thần''. Năm 1998, chính phủ Việt Nam đã xếp hạng Dantala là một cảnh đẹp thiên nhiên.
Thác Prenn và Đèo Prenn: Thác Prenn và Đèo Prenn nằm trên Quốc lộ 20, gần thác Datanla và cách trung tâm thành phố Đà Lạt 12km. Đèo Prenn dài 10km, dẫn vào cửa ngõ thành phố. Thác cao 13m cách dốc của đèo 100m về phía lam. Dưới chân thác là một cây cầu với một phần bị dòng nước che khuất. Chính phủ đã công nhận thác Prenn là một danh lam thắng cảnh của đất nước vào năm 1998.
Theo ngôn ngữ của người Chăm, ''Prenn'' nghĩa là ''một vùng bị xâm chiếm'' hoặc “đường ranh giới”. Nhiều thế kỷ trước đây, người Chăm ở Vương quốc Panduranga sống ở bờ biển phía tây (ngày nay là tỉnh Ninh Thuận) xâm chiếm đất đai của người Lạt và người Chia, cả hai nhóm này thuộc dân tộc Cơ Ho. Prenn khi đó là khu ranh giới và cũng là chiến trường giữa hai bên. Dân tộc Chăm sống trên giải đất từ Prenn qua Đ’Ran (huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng) tới bờ biển Phan Rang. Người Cơ Ho, Lạt và Chil cư trú ở khu vực sườn phía tây của Prenn.
Theo lịch sử của người Chăm, cuộc xung đột này diễn ra vào thế kỷ 17, dưới thời trị vì của Vua Prome (1625 - 1651) - người có sức mạnh quân sự lớn và muốn mở rộng vương quốc của mình về phía tây vào cao nguyên Lang Biển. Tuy nhiên, các dân tộc Cơ Ho, Lạt và Chil đã dập tắt tham vọng của ông vua này. Người Chăm chiếm giữ Đ' Ran trong một thời gian dài. Vết tích của các triều đại Chăm có thể được tìm thấy ở khu này. Một số ngôi làng ở Đơn Dương vẫn còn giữ các tên của người Chăm, như là K'loong và N'Thol Hạ.
Thác Cam Ly: Chỉ cách trung tâm thành phố Đà Lạt 3km. Trong dòng thác giống như mái tóc dài của một nàng trinh nữ. Ở Việt Nam, từ ''Cam Ly'' gợi nên sự u sầu của tình yêu. Cụm từ này thậm chí đã được đưa vào lời của một ca khúc trữ tình như sau:
Đà Lạt ơi, có nghe Cam Ly
Khóc tình đầu dang dở
Cam Ly cũng là tên của một dòng suối nhỏ chảy từ hồ Xuân Hương. Từ ''cam ly'' có nhiều nghĩa, nghĩa phổ biến nhất là ''chia cách''. Tuy nhiên, theo tiếng Hán cổ, ''cam'' nghĩa là ''thoả mãn'', ''dễ nghe'', ''hạnh phúc'' và ''ngọt ngào''; ''ly'' là ''thanh tú'' và ''nước thấm vào đất''. Một số người tin rằng thác nước biểu tượng cho một dòng nước tươi mát, ngọt ngào thấm vào con tim của du khách.
Vì cái tên “Cam Ly” đã có từ rất lâu, những nhà nghiên cứu đã đặt ra những giả thiết khác nhau về ý nghĩa nguyên thuỷ Việt Nam của từ này. Người Pháp đầu tiên đến Đà Lạt không hiểu tại sao hầu hết địa danh nơi đây đều được đặt theo ngôn ngữ của dân tộc thiểu số. Ngược lại “cam Ly” nghe giống như tiếng dân tộc Kinh (Người Việt). Một giả thiết cho rằng ''Cam Ly'' được biến thể ngữ âm từ tên một vị anh hùng người dân tộc địa phương Đăm M' Ly, nghĩa là ''một người bất khuất'' theo ngôn ngữ của người Lạch Cơ Ho. Đăm M' Ly đã chiến đấu chống người Pháp khi lần đầu tiên chúng xâm chiếm Cao Nguyên Lang Bian.
Tuy nhiên, nhiều người cho rằng câu chuyện dưới đây thuyết phục hơn:
Ngày xưa, có ba nhóm dân tộc sống cạnh nhau trên bờ suối Cam Ly và Hồ Xuân Hương. Người Lạt sống ở thung lũng của Hồ Xuân Hương; người Chil ở khu vực suối Bá Hé Thúc; và người Cơ Ho do tộc trưởng K'Mly lãnh đạo cư trú ở đỉnh thác. Sau khi K'Mly qua đời, bộ tộc đã đặt tên mảnh đất họ sống cũng như thác nước và dòng suối theo tên ông. Khỉ nói nhanh ''K'Mly'' nghe giống như ''Kam Ly'' hay ''Cam Ly''. Sau này người ta viết từ ''Kam Ly'' là ''Cam Ly'' nên có cảm tưởng là cái tên đó có nguồn gốc của dân tộc Kinh.
Thác Cougah: hay còn gọi là ''Hốc sâu'' cách Đà Lạt 38km và cách quốc lộ 20300m. Thác cao 17m và tách thành hai nhánh, một nhánh chảy nhẹ nhàng còn nhánh kia thì chảy ầm ầm. Từ ''Cougah'' bắt nguồn từ ngôn ngữ của dân tộc thiểu số, còn ''Hốc sâu'' là do người Kinh (người Việt) đặt để miêu tả những hòn đá trông giống những quả trứng ở chân thác vào mùa khô.
Thác Đambri: Thác nằm ở phía tây Huyện ly Bảo Lộc trên quốc lộ số 20 và cách huyện lỵ 18km, cao lừng lững 90m và là điểm đừng chân quan trọng trên chặng đường từ tỉnh Bình Thuận và tỉnh Ninh Thuận đến thành phố Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Mê Kông.

Theo tiếng Cơ Ho, ''Đambri'' nghĩa là ''đợi chờ'', kết hợp tên của đôi trai gái Đam và H'Ri. Theo truyền thuyết, ngày xưa, khi dòng suối chảy chậm hơn bây giờ, H'Ri thường tới bên hồ nước ở chân thác. Một hôm, Đam (đôi khi gọi là Đam) dừng lại trước dòng suối trên đường đi săn. Chàng nhìn thấy H' Ri đang tắm và bị quyến rũ bởi sắc đẹp của nàng. Rồi Đam và H'Ri yêu nhau và kết duyên vợ chồng. Một hôm Đam đi săn và không trở về. H'Ri cứ chờ đợi, chờ đợi mãi, nàng khóc nhiều và lâu đến nỗi nước mắt nàng chảy thành một dòng suối rồi thành thác nước lớn.
Cuối cùng Đam trở về. Nghe kể về sự tuyệt vọng của vợ, chàng nhảy xuống hồ nước ở chân thác để chứng tỏ lòng chung thuỷ của mình: Xác chàng biến thành hòn đá hình sư tử ở dưới chân thác. Người dân nói rằng con sư tử đá chính là chàng Đam trẻ tuổi đang khóc trên xác người vợ của mình. Người Cơ Ho đặt tên thác nước là Đam H'Ri và ngày nay đọc chệch thành ''Đambri''.
Cao nguyên Lâm Viên và núi Lang Bian: khu vực này nằm ở phía bắc và cách Đà Lạt 12 km, gồm núi Lang Bian, có độ cao nhất trong khu vực là 2.162 m so với mực nước biển. Nơi đây được dân địa phương và du khách ưa thích bởi họ có thể chơi các môn thể thao mạo hiểm và nghiên cứu các thực vật và động vật quý hiếm. Cư dân ở đây thuộc các dân tộc Lạt, Chil và Mạ cư.
Thung lũng Tình Yêu: khu vực này nằm ở phía bắc và cách Đà Lạt 5km, gồm các quả đồi, hồ, rừng thông, nhiều loài hoa dại ngạt ngào hương sắc và nổi tiếng với cái tên ''Thung lũng Yên Bình'' trong suốt triều vua Bảo Đại. Năm 1972, những kỹ sư đã xây dựng một con đập và tạo thành hồ Đa Thiện. Thung lũng vẫn có sức lôi cuốn nhiều người, cả trẻ lẫn già.
Rừng Thiên Đường: khu rừng ở phía nam và cách Đà Lạt 38km, gần quốc lộ 20. Rừng có Thác Gougah và nổi tiếng với khung cảnh thiên nhiên nguyên sơ.
Đà Lạt
The name ''Đà Lạt'' combines ''Đak'' which originates from ''Đak'' and means ''water'' or ''lake'' in the local dialect, and ''Lát'' the ame of the local ethnic-minority group, a subsection of the Co Ho group. The name ''Đà Lạt'' thus refers to the water of the Lát (Lách) people. Đà Lạt is home to many beautiful lakes, making it a popular spot for travellers. The city has seen an influx of tourists in recent years because of the international popularity of eco-tourism. Now, the city is song the top ten tourist destinations in Việt Nam. Climbing Lang Bian Mountain just north of Đà Lạt and the many walking tracks surrounding the city are popular with both residents and tourists.

Doctor and explorer Alexandre yersin(1863-1943) founded the French resort in Đà Lạt in 1895 because he thought the Lang Bian Plateau was an ideal place for convalescence. Since that time, the town and the surrounding rugged terrain have attracted a steady stream of domestic and international tourists. Situated at an altitude of 1,500 meters above sea level, Đà Lạt is 300 kilometers north of Hồ Chí Minh City and 110 kilometers inland from the coast.
Đà Lạt is often referred to as the ''City of Eternal Spring'' because its average daily temperature varies between 15 and 240C and is often sunny. The rainy season falls between April and November, with an average annual rainfall of 1.755 meters, while the dry season is between December and March. This climate allows Đà Lạt to grow flowers all year round, hence its other name, ''City of Flowers''. A light mist often covers the mountains and fertile valley fields surrounding Đà Lạt. Farmers ship fruits and vegetables throughout Viet Nam; in fact, the road linking Đà Lạt with Hồ Chí Minh City is known as the ''Road of Fruits and Vegetables''.
Đà Lạt has a mixture of ethnic minorities as well as ethnic Kinh (Vietnamese), who have moved there. Here is one of the few places in Việt Nam where local residents wrap up in warm clothes year round. The young girls of the region are renowned for their pink cheeks. Đà Lạt's city centre boasts an array of attractions for tourists, who can visit its French-style university grounds, church, and train station. The General Museum displays a good range of indigenous artifacts and various objects of local historical significance.
Visitors to Đà Lạt can also see palaces erected by French governors and Vietnamese kings, including one built by Bảo Đại, Việt Nam's last monarch. Đà Lạt is also home to at least ten ancient pagodas, the most poputar ones being Linh Son, Linh Phong, Linh Quang, Thiên Vương Cố Sát and Thiền viện Trúc Lâm. Đà Lạt boasts one of the oldest and most established golf courses in Việt Nam. Located in hilly terrain near Xuân Hương Lake, the golf course has been upgraded to international standards for eighteen holes.
Visitors will see a wide variety of flowers - many of them rare - along the city's streets, in its markets, and in the city's parks and nurseries. Đà Lạt's horticulture industry is thriving; its flowers are in demand throughout the country and are particularly popular in Hồ Chí Minh City Đà Lạt's oldest flower garden can be found near Đà Lạt University and Xuân Hương Lake at 2 Phù Đổng Thiên Vương Street. Established in 1966 and opened to the public in 1985, this garden displays a large collection of over 300 species and includes local varieties as well as flowers from throughout the world. The garden with its roses, chrysanthemums, gladioli, orchids, and mimosa has flowers in bloom year round.
Đà Lạt boasts the highest concentration of flower species in Việt Nam, with a concentration on oriental flowers such as purple peach blossoms, violet Japanese daisies, yellow chrysanthemums, red Chinese hibiscus, jasmine, night orchids, and white lilies. Growers have imported various rose species, such as Rosa Lutea (which grows from the Middle East to Chia) and the Rosa Indicafragans (which comes from Europe). Several newer rose species are named for celebrities, such as the Brigitte for Bridgitte Bardot, the john F. Kennedy, and Cracede Monaco, in addition to established species. One unique flower to be found in Đà Lạt is the Salem. In 1960, a Vietnamese resident of Belgium introduced the flower, which resembies bells with white, pink, and violet petals. Rose lovers throughout the country prize this species, which travels well.
About twenty species o chrysanthemums and daisies bloom year round. One of the most popular species is Sans-souci (Worry-free), in addition to Pensee, Violet, Cosmos, Immortal. Many species that originated in North America, Mexico, Latin America, Africa, and Europe now have Vietnamese names, such as Hoang Anh (Verge d’or), Thuoc duoc (Dahlia),Thu hai duong (Begonia Rex), Da hop (Magnolia), Mom soi (Guleule-de-Loup) Long den(Fuchsta), Phong lu (Ceranium), Xac phao (Sauge Eclatante), Sen da (Joubarbe Des Toits),Sen can (Capucine').
A variety of cherry blossoms (Prunus Cerasoides) that is unique to Đà Lạt blooms at Lunar New Years. This deciduous cherry tree, which grows well in Đà Lạt's temperate citmate, sbeds its leaves in autumn and remains leafless throughout the winter. First Introduced to the region in the early twentieth century, this variety differs from the japanese cherry blossom, which cannot grow in Đà Lạt's climate.
Đà Lạt has over 200 species of orchids, with five indigenous species recently discovered. These five feature ''Đà Lat” or ''Lang Bian'' in their names: Dendrobium dalatense, Oberonic dalatensi, Eria dalatensis, Dendrobium langbianense, and Oberonia langbianesis. These indigenous species are in as much demand as the favourite locally grown imported species: Balkis, Sayonara, Chateau, and Oriental Legend. Growers sell their orchids both within Việt Nam and overseas. Đà Lạt's orchids grow naturally in fields in contrast to European orchids, which must be grown in greenhouses that have special heat, ventilation, and lighting systems.
Flights to Đà Lạt operate from Hồ Chí Minh City (thirty-five minutes), and Hà Nội (one hour and forty minutes). Motorists can take two routes from Hồ Chí Minh City. Highway 20 is a trip of three hundred kilometers passing through Lâm Đồng Province's lush Bảo Lộc District. Or they can take Highway 1 to Phan Rang and then continue inland on Highway 27 through an area with historic towers erected by the Chăm ethnic minority, past the Đa Nhim Hydropower Plant, and across the stunning Ngoạn Mục Pass with its spectacular view of Đà Lạt and the surrounding pine forests.
Xuân Hương Lake (Fragrant Lake): Xuân Hương Lake is one of Đà Lạt City's most famous landmarks. Shaped like a crescent moon, the lake covers five square kilometers. Its clear waters and the surrounding boulevards lined with trees make the park a favourite rendezvous for lovers. Fishing is a popular pastime, as is riding the pedal boats and relaxing with a drink or a good meal in one of the many cafes and restaurants lining the lake.
Than Thở Lake (Lake of Lament): This lake, just six kilometers east of Đà Lạt's centre, lies between pine-covered hills. Local legend has it that the trees whisper a tragic love story that the lake witnessed and retains: A young couple committed suicide there in order to remain together. The light breeze across the water carries the sounds of the lovers' sobs. Visitors can see the gravesite that symbolises the couple's eternal love. The Forest of Passion located near the Lake of Lament is also popular an a result of collective imagination and is said to be a romantic place to convalesce.
Tuyền Lâm (All Forest Lake): This lake, located close to the popular Datanla Waterfall and formed by water from Tía Spring and the upper section of Đạ Tâm River on Voi (Elephant) Mountain, is a favourite for rowing and fishing. It is not clear when or how the lake got this name suggesting its forested environment. The water, the pines, an a nearby pagoda create an atmosphere befitting solitary souls.
The government began building a dam at the site in 1982 to ensure sufficient water to irrigate hundreds of hectares of rice fields in Đức Trọng District and completed the construction in 1987. Ever since, the lake has been a popular tourist attraction for tourists to Đà Lạt. A boat trip gives close-up views of the surrounding hills covered in pines. Several endangered animals inhabit the pin forests. Attractive tourist sites spot the lake banks, including the hunting grounds of Bảo Đại (the last king of the Nguyễn Dynasty), Bao Đại Waterfall, an area for raising buffalo, and the hunting grounds of the Lạt, an ethnic-minority group. A Zen monastery sits atop the hill north of the lake.
Đa Nhim Lake: Situated some forty kilometers east of Đà Lạt on the road to Phan Rang, this lake is worth the trip for its spectacular scenery because it is located inside an inactive volcano. After climbing the volcano, visitors are privileged to find a panoramic view overlooking the surrounding mountains and valleys.
Đa Thiện Lake: This lake in the ''Valley of Love” with the imposing Lang Bian Mountain as its backdrop is a popular meeting place for lovers.
Lắk Lake: In the E - de ethnic-minority language, ''Lak'' means ''Lake of Đắk Lắk Province.'' The journey of 170 kilometers from Đà Lạt to this lake passes through the scenic Trường Sơn Mountain Range and by villages belonging to the M' Nông, Ê-ĐÊ, Chu-ru, and Cơ Ho ethnic minorities.
Prenn Waterfall: This waterfall ten kilometers from Đà Lạt lies at the foot of Prenn Pass and is famous for its cascade - a white satin curtain falling over the foot-bridge located behind the falls. Pine forests and a variety of wild flowers surround the waterfall.
Pon Cour Waterfall: Many people regard this waterfall fifty kilometers south of Đà Lat as one of the most magnificent in Indochina. Although its drop is only forty meters, the waterfall has a plentiful supply of water and carries religious significance for local ethnic-minority people, who flock there for Lunar New Year's festivities and to pray for good luck in the coming year.
Ankroet Waterfall: This waterfall fifteen kilometers north of Đà Lạt and nearby Dankia Lake makes an attractive outing for tourists. The road to the waterfall winds through ethnic-minority hamlets, where residents have vegetable farms.
Datanla Waterfall: This waterfall at the foot of Prenn Pass and near Highway 20 is ten kilometers south of Đà Lạt's city center. The easiest may to get there is by motorbike taxi. The waterfall lies in a valley not far from Tuyền Lâm Lake. With its height of twenty meters, Datanla Waterfall is not as steep as the ones at Prenn and Pon Gour. It slopes gently and falls gracefully, but its pool is deep. After a walk of ten or fifteen minutes (about 300 meters) from the pass to the waterfall, trekkers come to another path that follows a long and steep slope. Youth like to jump from one rock to another and worm their way through the bushes.
Vietnamese researcher Nguyễn Diệp says the ''Datanla'' comes from the Cơ Ho phrase ''Đạ Tàm Nha'', which means ''water below the rocks” and has been mispronounced as ''Datanla”. The banks of the stream that flows into the Datanla once served as the base and hiding places for the Lat people when resisting Chăm invaders. Eventuatly, the Lạch drove out the invaders. Thereafter, Datanla became a local resistance base whenever foreign groups invaded.
Datanla's scenery is wild and charming. It is said that nymphs from Heaven once bathed there, hence the name ''Suối Tiên'' or ''Nymph Spring”.
In 1998, the government classified Datanla as a site of natural beauty.
Prenn Waterfall and Pass: Prenn Pass and Prenn Waterfall are twelve kilometers from the center of Đà Lạt City and on Highway 20 near Datanla Waterfall. Prenn Pass, which is ten kilometers long, lies at the entrance to Đà Lạt City The thirteen-meter waterfall is a hundred meters to the south of the slope of the pass. At its foot is a bridge partly veiled by the rush of water. The government recognised Prenn Waterfall as a site of national beauty in 1998.
In the Chăm language, ''Prenn'' means ''an invaded area'' or ''borderline''. Several centuries a go, the Chăm in the Kingdom of Panduranga on the east coast (present-day Ninh Thuận Province) invaded the land of the Lạt and the Chil, both related to the Cơ Ho. Prenn was the border area and also the battlefront between the two sides. The Cham lived on the stretch of land from Prenn through Đ' Ran (Đơn Dương District, Lâm Đồng Province) to Phan Rang on the coast. The Cơ Ho, Lạt, and Chil lived in the area on the western side of Frenn.
According to Chăm history, this conflict took place in the seventeenth century during the reign of King Porome (1625-1651), who has great military strength and wanted to expand his kingdom westward into the Lang Bian Highlands. However, the Cơ Ho; the Lạt, and the Chil clipped his ambition. The Chăm occupied Đ' Ran for a long tim. Vestiges of the Chăm dynasties can be found in the area. Some villages in Đơn Dương District still bear Chăm names, such as K' loong and N'Thol Hạ.
Cam Ly Waterfall: This waterfall is located only three kilometers from the center of Đà Lạt. The waterfall is said to drop like a young maiden's long hair. Vietnamese, the words ''Cam Ly'' evoke the melancholia of love. The phrase has even found its bay into the lyrics of a song:
Dear Da Lat, do you hear Cam Ly
Weeping for its first broken love?
Cam Ly also is the name of the small stream flowing from Xuân Hương Lake to the waterfall. The word “cam ly” has several meanings. In the most popular sense, it means ''giving in to separation''. However, in old Chinese, ''cam'' means ''satisfaction'', ''nice to the ear,'' ''happy'', and ''sweet''; ''ly'' means ''delicate'' and ''water soaking into the soil''. Some people believe the waterfall symbolises a stream of fresh, sweet water soaking into the hearts of visitors.
Since the name ''Cam Ly'' hay existed for such a long time, researchers have different theories about the Vietnamese nature of the word. The first French envoy to Đà Lạt could not understand why most place names in the area came from ethnic-minority languages. By contrast, ''Cam Ly'' sounds like the language of the Kinh (ethnic Vietnamese) majority. One theory suggests ''Cam Ly'' is a phonetic variant of the name of a local ethnic hero, Đăm M'Ly, whose name means ''an indomitable man'' in Koho Lach language. Đăm M’Ly fought against the French when they first invaded Lang Bian Plateau.
However, many people find the following story more convincing:
Once upon a time, there were three ethnic groups living side by side on the banks of Cam Ly Spring and Xuan Huong Lake. The Lạt lived in the vatley of Xuân Hương Lake; the Chil by the spring in the area of Bá Hé Thúc; and the Cơ Ho, led by chieftain K'MLy, at the top of the waterfall. After K'MLy passed away, his tribe named the area where they lived as well as the waterfall and the spring after him. Chen spoken quickly, ''K'MLy'' sounds like ''Kam Ly''. Later on, people wrote ''Kam Ly'' as ''Cam Ly,'' which left the impression that the name is of ethnic Kinh (Việt) origin.
Cougah Waterfall: Also called ''Pothole,'' this waterfall is located thirty-eight kilometers from Đà Lạt and three hundred meters from Highway 20. It is seventeen meters high and has two falls, one relatively quiet and the other gushinh. ''Gougah'' comes from the ethnic-minority language, while ''Fothole'' is an invention of Kinh (ethnic Vietnamese) people to describe the egg-shaped stones that can be seen at the foot of the waterfall during the dry season.
Dambri Waterfall: T'his waterfall eighteen kilometers west of Bảo Lộc District Town on National Road No. 20 is a majestic ninety meters high and is an important stop on tours departing from Bình Thuận and Ninh Thuận Provinces, Hồ Chí Minh City, and the Mekong Delta.
“Đambri” which means ''waiting'' in the Cơ Ho language, combines the names of to lovers, Đam and H' Ri. According to legend, in ancient times when the stream's flow was much lighter, H'Ri often cam to the pool at the foot o the waterfall. One day, Đam (sometimes called Kđam) stopped by the stream while hunting. He say H'Ri bathing and was mesmerised by her beauty. Đam and H'Ri fell in love and married.
One day, Đam went hunting and did not return. H'Ri waited and waited and wept so much and so long that her tears created a stream that formed a large waterfall.
Eventually, Đam returned. Hearing of his wife's despair, he jumped in the pool at the base of the waterfall to demonstrate his loyalty. His body turned in to the lion-shaped rock at the base of the falls. People say the lion is young Đam crying over his dead wife. The Cơ Ho named the waterfall Đam H’Ri, which is now mispronounced as ''Đambri''.
Lâm Viên Plateau and Lang Bian Mountain: This area twelve kilometers north of Đà Lạt includes Lang Bian Mountain, which has the area's highest altitude at 2,162 meters. It is popular with both local residents and tourists interested in adventure sports and in studying rare flora and fauna. Residents be long to the Lạt, Chil, and Mạ ethnic minority groups.
The Valley of Love: This area five kilometers north of Đà Lạt consists of hills, lakes, pine forests, and fragrant wild flowers and was known as the ''Valley of Peace'' during the reign of Emperor Bảo Đại. In 1972, engineers built a dam and created Đa Thiện Lake. The valley continues to attract people, both young and old.
The Forest of Elysium: This forest is thirty-eight kilometers south of Đa Lạt and is close to Highway 20. It includes the Gougah Waterfall and is noted for its raw, natural setting.
Các ý kiến mới nhất