Gốc > Đất nước Việt Nam > Lịch sử > lịch sử phổ thông > Từ nguồn gốc đến đầu thế kỷ X (thế kỷ thứ 10) > Việt Nam thời nguyên thủy >

Khái quát về thời đại đồ đồng trên đất nước Việt Nam


            Ở Việt Nam cách đây khoảng trên dưới 4.000 năm, trên cơ sở trình độ phát triển cao của kỹ thuật chế tác đá, cư dân trên khắp ba miền đất nước (đặc biệt là ở các vùng đồng bằng ven biển Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ) đã bắt đầu biết đến đồ đồng dưới dạng hợp kim (đồng thau).

            1. Thời đại đồ đồng ở miền Bắc Việt Nam

            Thời đại đồ đồng ở lưu vực sông Hồng

            Vào cuối thiên niên kỷ III – đầu thiên kỳ II TCN, những cư dân thời hậu kì đá mới ở lưu vực sông Hồng ngoài việc đưa kĩ thuật chế tác đá phát triển đến đỉnh cao còn biết đến một loại vật liệu mới: đồng thau. Tiêu biểu cho những nhóm cư dân ấy là các bộ lạc Phùng Nguyên sống tụ cư ở Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Tây, Hà Nội, Hải Phòng… Trong di chỉ khảo cổ học Phùng Nguyên, bên cạnh nhiều loại hình công cụ đá được chế tác tinh vi nhờ hệ thống kỹ thuật (cưa, tiện, mài, khoan tách lõi) và hệ thống đồ gốm phong phú về chủng loại, đa dạng về hoa văn trang trí, lần đầu tiên các nhà khoa học đã tìm thấy một số cục đồng cùng với xỉ đồng và gỉ đồng thau. Mặc dù đồ đồng còn chiếm tỉ lệ quá ít và cũng chưa phát hiện được công cụ bằng đồng nguyên vẹn trong văn hóa Phùng Nguyên, nhưng sự xuất hiện đồng thau đã cho phép chúng ta nghĩ rằng: chủ nhân các bộ lạc Phùng Nguyên đã bắt đầu biết đến kỹ thuật luyện kim. Sự xuất hiện của nghề luyện kim đã giúp cho người đàn ông bước đầu có được vị trí quan trọng trong sản xuất và đời sống xã hội.

            Tuy nhiên, do đồ đá vẫn chiếm đa số và giữ ưu thế trong đời sống kinh tế nên cư dân Phùng Nguyên về cơ bản vẫn chưa vượt ra khỏi phạm trù của hình thái xã hội nguyên thủy. Hai nền văn hóa nối tiếp được xem là có quan hệ nguồn gốc với văn hóa Phùng Nguyên là văn hóa Đồng Đậu và Gò Mun.

            Văn hóa Đồng Đậu (được gọi theo tên di chỉ Đồng Đậu, thuộc xã Minh Tân, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc) được xếp vào giai đoạn trung kỳ thời đại đồng thau, tồn tại vào khoảng nửa sau thiên niên kỉ thứ II TCN. Địa bàn cư trú của cư dân Đồng Đậu về cơ bản trùng hợp với Địa bàn cư trú của văn hoá Phùng Nguyên với sự mở rộng về phía trung và hạ châu thổ vùng gò đồi thấp và ven sông suối. Trong nền văn hoá này, đồ đá vẫn chiếm một tỉ lệ đáng kể, song đã có sự suy thoái về chất liệu và kĩ thuật chế tác so với giai đoạn Phùng Nguyên. Ngược lại, kĩ thuật luyện kim đúc đồng của người Đồng Đậu đã có sự phát triển đột biến, mặc dù đồ đồng trong giai đoạn này vẫn chưa nhiều (chiếm khoảng 20% tổng số công cụ).

 

            Điểm khác biệt với văn hóa Phùng Nguyên là trong các di chỉ Đồng Đậu người ta đã tìm thấy những công cụ bằng đồng hoàn chỉnh. Tại các địa điểm khai quật như Gò Diễn, Tiên Hội (Vĩnh Phúc), bên cạnh gỉ đồng, xỉ đồng, người ta đã phát hiện những công cụ đồng được chế tác với kĩ thuật cao. Bên cạnh nghề luyện kim, làm gốm vẫn được coi là nghề thủ công quan trọng trong sản xuất kinh tế của người Đồng Đậu. Gốm Đồng Đậu ở giai đoạn đầu ít nhiều vẫn mang phong cách Phùng Nguyên, tuy nhiên ở giai đoạn sau đã có nhiều thay đổi trong cách tạo dáng và trang trí hoa văn... Có thể nói, sự phát triển của ngành luyện kim đồng thau và nghề gốm là bằng chứng xác thực cho thấy văn hoá Đồng Đậu có sự kế thừa truyền thống ở giai đoạn trước đồng thời đã phát triển lên một giai đoạn cao hơn. Những thành tựu của văn hóa Đồng Đậu là tiên đề cho sự phát triển của giai đoạn văn hoá Gò Mun sau đó [1].

            Văn hoá Gò Mun (được gọi theo tên di chỉ Gò Mun, thuộc xã Việt Tiến, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ) được xếp vào giai đoạn hậu kì thời đại đồng thau, tồn tại vào khoảng cuối thiên niên kỉ thứ II TCN cho đến nửa đầu thiên niên kỉ thứ I TCN. Chủ nhân văn hóa Gò Mun sống phân bố chủ yếu vùng chuyển tiếp ở vùng trung du xuống vùng châu thổ, dọc hai bên bờ sông Hồng, trong đó, hai khu vực tụ cư đông đúc nhất là vùng Lâm Thao (Phú Thọ) và vùng hữu ngạn sông Hồng. Về cơ bản, không gian sinh tồn của người Gò Mun vừa có sự trùng hợp, vừa có sự mở rộng hơn so với địa bàn cư trú của người Phùng Nguyên và Đồng Đậu ở giai đoạn trước.

            Trong các di chỉ Gò Mun, đồ đá vẫn tồn tại mặc dù số lượng chiếm không nhiều. Việc tìm thấy những địa điểm chế tác đá tách rời nơi cư trú như di chỉ xưởng Gò Chon (huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ) cho thấy đồ đá vẫn còn có vi trí nhất định trong đời sống kinh tế của người Gò Mun. Tuy nhiên, đồ đồng ở giai đoạn Gò Mun mới thực sự là nguyên liệu giữ vai  trò quan trọng. Thống kê cho thấy tỉ lệ công cụ đồng trong văn hóa Gò Mun đã chiếm trên 50% tổng số công cụ tìm được. Trong đó, có tới hơn 20 công cụ, vũ khí và dụng cụ khác nhau. Ngoài ra còn phải kể tới rất nhiều đồ trang sức bằng đồng như vòng tay, khuyên tai, nhẫn, tượng và động vật... Tất cả đều là sản phẩm của kĩ thuật pha chế, nấu luyện, đúc đồng đã đạt tới trình độ khá cao của những người thợ thủ công Gò Mun. Điều đó cho thấy, các nghề thủ công (trong đó có nghề luyện kim) đã khá phát triển trong đời sống kinh tế của cư dân Gò Mun. Mặc dù vậy, đời sống kinh kinh tế chính của con người thời kì này vẫn là làm ruộng nước, trồng trọt hoa màu, chăn nuôi kết hợp với các nghề phụ như hái lượm, săn bắn thú rừng. Văn hoá Gò Mun, một mặt có quan hệ cội nguồn với văn hóa Đồng Đậu trước đó. Mặt khác, lại là cơ tầng, cội nguồn bản địa của sự hình thành và phát triển của văn hoá Đông Sơn [2] .

            Như vậy, nhắc tới thời đại đồ đồng ở lưu vực sông Hồng, trước hết phải nói tới văn hóa Phùng Nguyên. Tiếp theo văn hoá Phùng Nguyên là các giai đoạn Đồng Đậu, Gò Mun. Những nền văn hoá này đã trực tiếp xây dựng cơ sở cho văn hoá Đông Sơn ở giai đoạn sau.

http://www.bachkhoatrithuc.vn/data/catalogues/3809/633649494969375000/633649494969375000_files/image002.jpg

            Thời đại đồ đồng ở lưu vực sông Mã

            Cùng thời với các bộ lạc Phùng Nguyên ở lưu vực sông Hồng, các bộ lạc ở vùng châu thổ sông Mã đã tiến tới thời đại kim khí và biết đến đồng thau, tiêu biểu là các di chỉ Cồn Chân Tiên, Hoa Lộc.

            Hoa Lộc là tên gọi một địa điểm khảo cổ học thuộc xã Hoa Lộc, huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Chủ nhân của văn hóa Hoa Lộc sống gần bờ biển. Họ đã tiến tới một nền nông nghiệp dùng cuốc khá phát triển. Trong các hiện vật đồ đá (gồm cuốc, rìu, bôn đá có vai), số lượng cuốc đá tìm thấy ở Hoa Lộc được coi là nhiều hơn cả trong các địa điểm đã biết ở Việt Nam. Không chỉ trồng lúa, chăn nuôi, dệt vải, chế tác đá, săn bắn và đánh cá, cư dân Hoa Lộc còn làm gốm. Đồ gốm Hoa Lộc độc đáo cả về kiểu dáng lẫn hoa văn trang trí. Dấu vết của những đồ án hoa văn được trang trí công phu trên gốm và những con dấu bằng đất nung (có lẽ dùng để in lên vải hoặc gốm) tìm được trong văn hoá Hoa Lộc đã cho thấy trình độ thẩm mỹ và đời sống tinh thần của con người bấy giờ khá phong phú.

            Điều đặc biệt trong văn hoá Hoa Lộc là cư dân ở đây còn biết đến nghề luyện kim. Qua khai quật, người ta đã phát hiện 3 di vật bằng đồng trong tầng văn hoá Hoa Lộc (gồm 1 cục đồng nhỏ, vòng đồng và rìu đồng). Tuy số lượng đồ đồng còn ít, song đã chứng tỏ rằng, chủ nhân của văn hoá Hoa Lộc đã biết đến kĩ thuật luyện đồng. Mặc dù niên đại tuyệt đối của văn hóa Hoa Lộc cho đến nay chưa được xác định cụ thể. Song, bằng phương pháp so sánh, phân tích tổ hợp các hiện vật trong di chỉ này, các nhà nghiên cứu cho rằng, văn hóa Hoa Lộc có niên đại tương đương với văn hóa Phùng Nguyên ở Bắc Bộ [3].

            Di chỉ Cồn Chân Tiên nằm ở xã Thiệu Vân, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Nếu như không gian sinh tồn của các bộ lạc Hoa Lộc là trên các đồi cát ven biển thì nơi cư trú của các bộ lạc Cồn Chân Tiên là ngã ba sông Mã, sông Chu. Tại địa điểm khai quật, bên cạnh đồ đá và đồ gốm, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở Cồn Chân Tiên một vài cục gỉ đồng, trong tầng văn hóa thuộc thời đại kim khí. Các nhà nghiên cứu cho rằng: “Di tích Cồn Chân Tiên là một di chỉ xưởng thuộc sơ kì thời đại đồng thau, có những mối quan hệ gần gũi với các di tích của văn hóa Phùng Nguyên hay nhóm di tích Hoa Lộc… Cồn Chân Tiên là đại diện cho một giai đoạn trong chuỗi phát triển liên tục của các giai đoạn văn hóa vùng ngã ba sông Mã – sông Chu” [4].Giai đoạn Cồn Chân Tiên – Hoa Lộc tương đương với văn hóa Phùng Nguyên nên được xếp vào sơ kỳ thời địa đồng thau.

            Tiếp sau di chỉ Cồn Chân Tiên, Hoa Lộc là các nhóm di tích Bái Man, Quỳ Chử. Nhóm di tích Bái Man được lấy tên từ địa điểm tiêu biểu nhất – di chỉ Bái Man (thuộc xã Đông Lĩnh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa). Ở di chỉ Bái Man, chủ yếu tìm thấy đồ gốm và công cụ bằng đá, chưa tìm thấy đồ đồng. Tuy nhiên, ở lớp dưới đáy di chỉ Đồng Ngầm thuộc nhóm di tích này, người ta cũng tìm thấy mảnh đồng (có thể là dấu vết mảnh vỡ của công cụ đồng). Niên đại của nhóm di tích Bái Man được xếp muộn hơn di chỉ Cồn Chân Tiên (có thể coi là thuộc trung kỳ thời đại đồng thau).

            Nhóm di tích Quỳ Chủ được lấy tên từ địa điểm khảo cổ học Quỳ Chử (thuộc thôn Quỳ Chử, xã Hoàng Quỳ, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Đặc trưng hiện vật của nhóm di tích này, ngoài đồ gốm các loại là sự suy giảm của hiện vật đồ đá, bên cạnh đó xuất hiện một vũ khí và công cụ bằng đồng như giáo, dao, rìu xòe cân… Niên đại chấm dứt của giai đoạn Quỳ Chử vào thế kỷ VIII TCN nên nhóm di tích này được các nhà nghiên cứu xếp và giai đoạn tiền Đông Sơn và trực tiếp chuyển lên văn hóa Đông Sơn [5].

            Như vậy, qua các giai đoạn diễn tiến từ Cồn Chân Tiên, Hoa Lộc đến Bái Man, Quỳ Chử đã cho thấy mối quan hệ khăng khít trong quá trình phát triển của các di chỉ khảo cổ học ở lưu vực sông Mã. Quá trình ấy vừa tạo ra những nét văn hóa đặc trưng mang tính địa phương, vừa tạo ra những nét gần gũi với văn hóa Phùng Nguyên, Đồng Đậu, Gò Mun, để cuối cùng hòa chung tạo nên văn hóa Đông Sơn thống nhất ở vùng Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ [6].

            Thời đại đồ đồng ở lưu vực sông Cả

            Tại lưu vực sông Cả (còn gọi là sông Lam ở Nghệ An), các nhà khảo cổ học cũng đã phát hiện được một số di chỉ thuộc thời đại đồng thau, trong đó tiêu biểu là hai nhóm di tích Đền Đồi và Rú Trăn.

            Nhóm di tích Đền Đồi được lấy tên từ địa điểm Đền Đồi (thuộc xã Quỳnh Hậu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An). Tại nhóm di tích này, người ta đã tìm thấy được một ít đồ đá và nhiều loại hình đồ gốm khác nhau (như vò, bát, bình, mâm…). Đó là những dấu hiệu vật chất cho phép đoán định các bộ lạc đền đồi là những cư dân làm nông nghiệp, sống định cư, gắn bó với biển và có một số nghề thủ công phát triển như chế tác đá, đồ gốm. Qua các công cụ đá và đồ gốm khai quật được tại Đền Đồi, các nhà nghiên cứu cho rằng, cư dân ở đây đã có một trình độ tương ứng với cư dân Phùng Nguyên, Hoa Lộc, Cồn Chân Tiên, thuộc thời đại kim khí.

            Nhóm di tích Rú Trăn được đặt theo di tích cùng tên, phát hiện được tại xã Nam Xuân, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Hiện vật tìm được ở đây khá phong phú về chủng loại gồm: đồ đá, đồ gốm, đồ xương, đồ đồng. Một số công cụ và đồ dùng bằng đồng tìm được ở đây như cuốc đồng, nồi nấu đồng, mũi nhọn, nhẫn đồng và xỉ đồng. Sự có mặt của nồi nấu đồng và xỉ đồng ở di chỉ Rú Trăn là bằng chứng cho thấy cư dân ở đây đã biết nấu đồng và đúc đồng tại chỗ. Theo các nhà khảo cổ học, nhóm di tích Rú Trăn: “thuộc giai đoạn văn hóa trước Đông Sơn, có nhiều đặc trưng đúng với văn hóa Gò Mun. Cư dân Rú Trăn đã góp phần trực tiếp vào sự hình thành văn hóa Đông Sơn” [7].

            2. Thời đại đồ đồng ở Nam Trung Bộ Việt Nam

            Nói tới nền văn hoá sơ sử ở miền Trung Việt Nam, trước tiên người ta đều kể tới văn hoá Sa Huỳnh. Đây là nền văn hoá thuộc sơ kỳ đồ sắt, tồn tại vào khoảng nửa sau thiên niên kỉ thứ I TCN.

            Tuy nhiên, trước thời kì Sa Huỳnh, khảo cổ học đã phát hiện được một số di chỉ thuộc thời đại đồng thau. Các di chỉ đó được gọi dưới cái tên là những di tích tiền Sa Huỳnh. Tiêu biểu cho giai đoạn Tiền Sa Huỳnh ấy là các nền văn hóa: Xóm Cồn, Long Thạnh và Bình Châu[8].

            Di chỉ Xóm Cồn nằm ven biển phía Tây của một mũi đất nhỏ thuộc vịnh Cam Ranh, thuộc phường Cam Linh, thị trấn Ba Ngòi, huyện Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là nền văn hoá được xếp vào giai đoạn hậu kì đá mới - sơ kỳ đồng thau [9] cách ngày nay khoảng 3.500 - 3.000 năm. Chủ nhân của văn hoá Xóm Cồn sống tụ cư ở một khu vực, các đảo hay khu vực bờ biển thuộc Khánh Hoà, Phú Yên, vùng duyên hải Nam Trung Bộ. Công cụ đá điển hình ở Xóm Cồn là các loại rìu, bôn tứ giác thon dài, đốc hẹp, có hình dạng gần giống với rìu, bôn tứgiác trong văn hóa Đồng Nai. Đồ gốm ở Xóm Cồn khá phong phú, phổ biến là các loại đồ đựng đáy tròn, kiểu mâm bồng hay cốc có chân. Trên đồ gốm, những người thợ thủ công thường trang trí các loại hoa văn in chấm hay văn chài bằng màu đỏ nâu và vàng da cam.

            Cư dân xóm Cồn bên cạnh các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi còn có nghề khai thác, đánh bắt thuỷ, hải sản.

            Văn hóa Xóm Cồn mang nhiều đặc trưng và tính chất khác văn hoá Sa Huỳnh (chính xác hơn là tiền Sa Huỳnh)[10]. Nó được coi là nằm ngoài hệ thống văn hóa Sa Huỳnh, song người chủ văn hóa Xóm Cồn lại được coi là một trong những tiền nhân trực tiếp của người Sa Huỳnh sau này.

            Di chỉ Long Thạnh (thuộc xã Phổ Thạnh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi) vừa là địa điểm cư trú, vừa là di chỉ mộ táng.

            Với đặc điểm là một khu cư trú, tại di chỉ Long Thạnh đã tìm thấy được nhiều hiện vật đồ đá và đồ gốm. Công cụ đá ở Long Thạnh chủ yếu là đá mài, gồm nhiều loại hình: bôn răng trâu, rìu hình thang, cuốc hình thang, bàn mài, mũi khoan đá bằng thạch anh. Đặc biệt, loại rìu mài đốc hẹp, không vai, lưỡi xòe có dáng hình tam giác ở Long Thạnh được xem là loại hình công cụ rất phổ biến trong các địa điểm thuộc sơ kỳ kim khí ở khu vực sông Đồng Nai. Gốm Long Thạnh chủ yếu là gốm thô, tồn tại dưới dạng mảnh. Ngoài mảnh gốm còn có những nồi gốm rất nhỏ được nặn bằng tay – một trong những hiện vật thường thấy trong mộ táng.

            Với đặc điểm là một khu mộ táng, người ta cũng tìm thấy nhiều đồ đá và gốm trong các mộ táng Long Thạnh. Tuy nhiên, loại hình đồ gốm là chủ yếu với nhiều kiểu loại: chum gốm, vò gốm, nắp đậy, bình hình lọ hoa, bát sâu lòng có chân đế cao… Điều đặc biệt là ở Long Thạnh, người ta đã tìm thấy loại hình mộ chum Sa Huỳnh, thuộc sơ kì thời đại đồ sắt. Chính vì tính phức tạp, không thuần nhất của địa điểm khảo cổ học Long Thạnh nên việc xác định niên đại của di chỉ này không dễ dàng. Căn cứ vào dấu tích nơi cư trú và mộ táng, có thể xếp di chỉ Long Thạnh vào thời đại đồng thau. Căn cứ vào dấu hiệu mộ chum, lại có thể xếp mộ chum Long Thạnh vào dạng thức mộ chum giai đoạn Sa Huỳnh sơ kỳ thời đại sắt… Ý kiến đa số hiện nay vẫn xếp di chỉ Long Thạnh thuộc tiền Sa Huỳnh và là “một trong nhiều nguồn kết tinh hội tụ thành tạo nên văn hóa Sa Huỳnh sơ kỳ thời đại đồ sắt ở miền Trung Việt Nam”[11].

            Di chỉ Bình Châu thuộc thôn Châu Thuận, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Đây đồng thời vừa là di tích khu cư trú, vừa là di tích mộ táng.

            Tại tầng văn hoá thuộc di tích cư trú, người ta phát hiện thấy những vết tích than tro, một ít công cụ sản xuất bằng đá, các mảnh gốm vỡ và những mảnh khuôn đúc, mảnh nồi nấu, xỉ đồng – bằng chứng cho sự xuất hiện của nghề luyện kim đồng thau.

            Tại tầng văn hoá thuộc di chỉ mộ táng, người ta cũng tìm thấy nhiều công cụ sản xuất, đồ gốm, đồ trang sức và đồ đồng thau (gồm có mũi tên, đục, lao có ngạch, lưỡi câu...).

            Do đặc trưng là một địa điểm có nhiều lớp văn hóa sớm và muộn, việc xác định niên đại của di chỉ Bình Châu cũng rất phức tạp. Căn cứ vào các hiện vật khai quật được lớp văn hóa Bình Châu giai đoạn sớm, có thể xếp Bình Châu vào giai đoạn tiền Sa Huỳnh thuộc hậu kì thời đại Đồng thau ở Nam Trung Bộ. Tuy nhiên, nếu dựa trên những hiện vật tìm thấy ở lớp văn hóa Bình Châu giai đoạn muộn thì lại có thể coi Bình Châu "là một dạng thức riêng tồn tại trong không gian và thời gian của văn hóa Sa Huỳnh sơ kỳ thời đại đồ sắt[12].

            3. Thời đại đồ đồng ở khu vực Nam Bộ       

            Đa số các ý kiến các nhà nghiên cứu đều cho rằng, thời đại đồ đồng ở miền Nam Việt Nam có thể chia thành các giai đoạn nối tiếp nhau tương ứng với các di chỉ sau đây:

            - Di chỉ Cầu Sắt

            - Di chỉ Bến Đò

            - Di chỉ Cù Lao Rùa

            - Di chỉ Dốc Chùa

            Các di chỉ này đều thuộc giai đoạn đồng thau tạo nên phức hệ văn hóa Đồng Nai.

            Di chỉ Cầu Sắt (thuộc xã Xuân Bình, huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai) được coi là tiêu biểu cho giai đoạn sơ kỳ đồng thau ở khu vực Nam Bộ. Hiện vật thu được trong những đợt khai quật di chỉ này chỉ có gốm và đồ đá. Cư dân Cầu Sắt chưa biết làm các hiện vật và công cụ bằng kim loại. Tuy nhiên, việc tìm thấy một số tiêu bản khuôn đúc đã cho phép nghĩ rằng, di chỉ Cầu Sắt có niên đại gắn với các di chỉ sớm khác của văn hóa Đồng Nai, có thể xếp vào phạm trù thời đại đồng thau.

            Di chỉ Bến Đò (có tên là Gò Đồn), thuộc phường Long Bình, quận 9, thành phố Hồ Chí Minh. Qua khai quật, các nhà khảo cổ đã tìm thấy tại đây 710 hiện vật đá các loại, 121 viên bi gốm và hàng vạn mảnh gốm các loại. Hiện vật đá ở Bến Đò chủ yếu là rìu có vai, ngoài ra còn có loại rìu tam giác mũi nhọn, cuốc đá bàn màu, mảnh vỡ công cụ… hầu hết các công cụ đá đều làm từ đá bazan và được mài, ghè, đẽo, cưa chỉn chu. Đồ gốm tìm thấy ở Bến Đò có mật độ phân bố dày đặc, bao gồm các loại mảnh gốm, bình gốm, gốm “hình sừng bò” và hiện vật chưa biết công dụng. Trong số đó, phổ biến là các loại gốm miệng loe và có chân đế, được làm bằng bàn xoay. Trên gốm có trang trí các đồ án hoa văn kiểu chữ S, hoa văn hình sóng nước, hình ziczắc hay được tô màu thổ hoàng.

            Các nhà khảo cổ học cho rằng, di chỉ Bến Đò là một bước phát triển muộn hơn Cầu Sắt, ở vào giai đoạn cuối của sơ kỳ thời đại đồng thau, tồn tại khoảng giữa thiên niên kỉ thứ II TCN (cách ngày nay chừng 3.800 năm)[13].

            Tiếp sau giai đoạn Dốc Chùa được đánh dấu bằng di chỉ Cù Lao Rùa. Trong di chỉ này, các công cụ đá lớn có vai như cuốc, mai, đục đá giảm mạnh, thay vào đó chiếm ưu thế lại là các công cụ không có vai. Đặc biệt, cư dân Cù Lao Rùa đã biết đúc đồng và sử dụng công cụ bằng đồng. Di chỉ Cù Lao Rùa được nhiều nhà nghiên cứu cho rằng thuộc trung kỳ thời đại đồng thau.

            Tiêu biểu cho các nền văn hóa hậu kì thời đại đồng thau ở Nam Bộ là di chỉ Dốc Chùa (thuộc xã Tân Mỹ, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương). Đây cũng là địa điểm bao gồm cả khu di chỉ và mộ táng. Khu di chỉ Dốc Chùa nằm ở dưới lớp, thuộc trung kỳ thời đại đồng thau (có niên đại khoảng từ 3.500 – 2.800 năm cách ngày nay). Khu mộ táng Dốc Chùa nằm ở trên, thuộc hậu kì thời đại đồng thau, sơ kỳ thời đại sắt (có niên đại khoảng 2.500 – 2000 năm cách ngày nay).

            Qua khai quật tại Dốc Chùa, bên cạnh 1.218 hiện vật đá với nhiều chủng loại khác nhau, một số đồ thủy tinh, đồ gốm và đất nung, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy ở đây 68 hiện vật bằng đồng thau bao gồm các loại rìu, giáo, lao, qua, dao hái, tượng động vật, lục lạc… Qua phân tích, đồi chiếu, các nhà nghiên cứu cho rằng, bộ sưu tập hiện vật Dốc Chùa (bao gồm Gốm, đá, đồng…) vừa mang những đặc trưng riêng có tính chất truyền thống điển hình của trung tâm văn hóa bản địa vùng đồng bằng Bắc Bộ, vừa có những nét tương đồng với một số địa điểm khác cùng thời ở Đông Nam Á [14].

            Điều đó chứng tỏ cư dân Dốc Chùa không chỉ có sự giao lưu văn hóa với các vùng khác trong nước mà còn có mối quan hệ văn hóa – kinh tế lớn hơn với những cư dân phía Nam bán đảo Đông Dương (thuộc Campuchia, Thái Lan… [15].

            Như vậy, với sự phát triển nối tiếp của các di chỉ văn hóa từ Cầu Sắt – Bến Đò – Cù Lao Rùa – Dốc Chùa, một phức hệ văn hóa Đồng Nai được hình thành. Văn hóa Đồng Nai, thuộc thời đại kim khí (từ sơ kì đồng thau đến sắt sớm) ở Đông Nam Bộ đã trở thành một trong ba trung tâm văn hóa lớn của thời đại kim khí trên đất nước Việt Nam.

            Tóm lại, cách đây khoảng 4.000 năm trên khắp lãnh thổ Việt Nam (từ lưu vực sông Mã, sông Cả - Bắc Trung Bộ đến lưu vực sông Đồng Nai – Nam Bộ), những nhóm cư dân nguyên thủy đã bước vào thời đại kim khí.

            Trên cơ sở đưa kĩ thuật chế tác đá phát triển đến đỉnh cao, con người thời bấy giờ đã biết đến đồng thau và từng bước đưa nghề luyện kim đồng thau trở thành một ngành kinh tế sản xuất giữ vai trò quan trọng trong đời sống của họ (mặc dù do đặc thù ở mỗi địa phương, sự phát triển này không đồng đều về mức độ). Chính điều đó đã tạo nên sự chuyển biến sâu sắc trong đời sống kinh tế - xã hội của con người, dọn đường cho sự tan rã của xã hội nguyên thủy trên đất nước ta.

 



[1] Lâm Thị Mỹ Dung, Thời đại đồ đồng, Sđd, tr 125.

[2] Lâm Thị Mỹ Dung, Thời đại đồ đồng, Sđd, tr 132.

[3] Lâm Thị Mỹ Dung, Thời đại đồ đồng, Sđd, tr 143.

[4] Lâm Thị Mỹ Dung, Thời đại đồ đồng, Sđd, tr 137.

[5] Lâm Thị Mỹ Dung, Thời đại đồ đồng, Sđd, tr 137.

[6] Trương Hữu Quýnh (cb), Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập 1, Sđd, tr 25.

[7] Lâm Thị Mỹ Dung, Thời đại đồ đồng, Sđd, tr 148.

[8] Đặt những di tích kể trên thuộc phạm trù thời đại đồng thau vẫn còn là vấn đề chưa thực sự thỏa đáng. Lý do là vì: mặc dù những di tích này có niên đại tương đương với thời đại đồng thau ở miền

[9] Nguyễn Quang Ngọc (cb), Tiến trình lịch sử Việt Nam, Sđd, tr 17.

[10] Lâm Thị Mỹ Dung, Thời đại đồ đồng, Sđd, tr 148

[11] Lâm Thị Mỹ Dung, Thời đại đồ đồng, Sđd, tr 160

[12] Lâm Thị Mỹ Dung, Thời đại đồ đồng, Sđd, tr 183

[13] Lâm Thị Mỹ Dung, Thời đại đồ đồng, Sđd, tr 198

[14] Chẳng hạn đồ đồng thau ở Dốc Chùa có nét tương đồng với loại hình đồ đồng ở Bản Chiềng, Nonkor, Thái Lan.

[15] Lâm Thị Mỹ Dung, Thời đại đồ đồng, Sđd, tr 209 – 211.
Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 14:24 24/01/2011
Số lượt xem: 7770
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến