VỀ THĂM VĂM MIẾU
VỀ THĂM VĂM MIẾU
Với mỗi người dân Hà Nội, khi nói đến Văn Miếu, chúng ta không cần nói rõ thêm Quốc Tử Giám mặc dù chúng ta đều biết sau khi lời kinh đô vào Phú Xuân, nhà Nguyễn đã lập một Văn Miếu - Quốc Tử Giám ở trong đó, vì trong tâm trí những người dân đất Thăng Long hình như chỉ có Văn Miếu ở Hà Nội mà thôi. Là người dân sống ở Hà Nội, Văn Miếu ở giữa đất Hà Nội, nhưng chúng ta vẫn nói về thăm Văn Miếu. Mới nghe hình như không ổn, song ca dao có câu: Chiều chiều ra đứng bờ sông. Muốn về quê mẹ mà không có đò. Hay: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau. Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.” Đối với người con thì dù cha mẹ ở đâu, ngược xuôi hay đông, tây, nam, bắc bất kể cũng đều nói “về quê”. Vì vậy xin cho được dùng từ về thăm Văn Miếu. Văn Miếu là tinh hoa Việt Nam, là thiêng liêng, là tự hào của dân tộc Việt Nam chúng ta, Văn Miếu là Việt Nam.
Văn Miếu có lịch sử đã gần ngàn năm. Tôi đã gần 70 tuổi nhưng tôi cũng không dám giấu diếm rằng Văn Miếu mới chỉ thực sự gắn bó với đời tôi gần 20 năm nay. Tôi đã đi tìm những gì ở đâu đâu và cho đến gần đây tôi mới tìm thấy cho con cháu đã lỗi lầm. Vào mùa xuân Quý Dậu, một dòng chữ Hán trên tấm bia tiến sĩ khoa thì Nhâm Tuất (1442), ông đã ghi tên một người Hà Nội đậu bảng nhãn là Nguyễn Như Đỗ, người xã Đại Tân, huyện Thanh Đàm (Thanh Trì). Ông đã nhờ tôi viết tên Nguyễn Như Đỗ bằng chữ quốc ngữ và hỏi tôi nhiều điều về việc học hành thi cử ở Văn Miếu, sau khi nghe tôi nói, ông đã cho tôi biết vào thế kỷ XV, so với nước Nhật thì việc giáo dục, tuyển lựa nhân tài ở Việt Nam đã rất phát triển, Việt Nam là một nước văn minh lâu đời, là đỉnh cao của văn hoá khu vực châu á. Được biết, việc ghi tên những người đỗ tiến sĩ vào bia đá để tôn vinh người đỗ đạt thì ở Nhật không có, có lẽ ngoài Việt Nam chỉ có Trung Quốc mà thôi. Tôi đã về thăm Văn Miếu nhiều lần, đã am hiểu khá cặn kẽ nhiều điều, đã đi hầu hết các bia dựng ở đây, song hôm nay lòng dạ thấy xốn xang, tôi thấy mình như lớn lên cùng Văn Miếu, cùng tổ tiên dân tộc vì đã bao năm nay tôi vẫn triền miên mặc cảm về sự nghèo khổ của đất nước, băn khoăn về trách nhiệm của những người có học đối với dân tộc. Trong trí tôi lại hiện dần lên những lần về thăm Văn Miếu của những quãng đời đã qua.
Nhớ lại hồi còn nhỏ, tuổi độ l4, 15 cắp sách đến trường học chữ ''Tây'' mỗi lần đi qua Văn Miếu tôi chỉ hình dung nơi đây như một đình láng rộng lãi khang trang, có nhiều cây cổ thụ, có các cụ già khăn xếp áo dài, hàng tháng đến tế lễ thần thánh như bao đình láng khác ở khắp làng quê. Sau 9 năm kháng chiến, trở về thủ đô, mặc dầu làm công tác có liên quan Đến Văn Miếu nhưng tôi thường vịn cớ bận bịu nên ít có địp đến thăm nơi đây. Lúc này tôi đã biết được Văn Miếu là nơi thờ Khổng Tử, có những bia ông Nghè của cả nước, và là một di tích lịch sử quốc gia. Những lần đi qua tôi vẫn như một chú bé vô tư, thản nhiên không cần suy nghĩ gì. Sau những năm đi sơ tán trong chiến tranh chống Mỹ trở về, tuổi đã ngoài 50, một lần vào sáng chủ nhật dẫn các con vào thăm Văn Miếu, tôi đã vui mừng vì thấy Văn Miếu vẫn còn nguyên vẹn, không bị bom đạn chiến tranh tàn phá. Nhưng sự huỷ hoại của mưa nắng thời gian cũng đã hiện lên làm tôi không khỏi đau lòng: tường nhà lở nứt, mái ngói xô vỡ, kèo cột mục nát, cây cối xơ xác, hàng bia xiêu vẹo, lá rơi ngập lối, rêu mọc mịt mờ. Chạnh lòng tôi nghĩ đến câu thơ của bà huyện Thanh Quan về sức mạnh của tổ tiên ở nơi đây: ''Lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo''. Nó đã truyền lại trong cuộc chiến đấu hôm nay và đã đưa chúng ta đến chiến thắng kẻ thù xâm lược hung hãn nhất toàn cầu thời đại ngày nay. Nhìn những hàng chữ trên bức đại tự ''Cổ kim nhật nguyệt'' tôi nghĩ đến cái bất diệt muôn đời, cái chính nghĩa trong sáng mà cha ông ta đã hun đúc và lưu truyền cho con cháu tại nơi đây. Đọc văn bia tiến sĩ, tôi thấy những dòng chữ, ''nghĩ sao cho đời dân no đủ, gốc nước vững bền'', ''tận trung với nước, dạ ngay nghĩa thẳng...'' (dịch văn bia 1463) tôi thấy mình như đã trở lại đúng mạch nguồn của lẽ sống của kẻ sĩ, vì đã bao nhiêu năm cái mà mình vẫn yên chí thì đến nay nó không phải là của mình, nó phải nhường chỗ cho cái mà mình đã tìm thấy tai nơi đây: Văn Miếu. Văn Miếu là dân tộc Việt Nam. Từ đó tôi về thăm Văn Miếu mỗi mùa như con chim trở về với tổ ấm, như lá rụng về cội để thấy thêm sức mạnh của mình.
Thế rồi có một lần sau thời kỳ đổi mới, về thăm Văn Miếu tôi thấy một tờ báo của thanh niên đã chọn nơi này làm chỗ thi hoa hậu, người đẹp được đi thăm Thái Lan một tuần lễ. Đau đớn làm sao, khi có lớp người trẻ tuổi chưa hiểu hết cha ông, đã có việc làm kỳ quái ở nơi ''đất thánh'' thiêng liêng này. Cũng may, vì lý do kỹ thuật nên cái việc kia đã không xảy ra ở nơi đây. Nhưng rồi vào một mùa xuân, người ta đã tổ chức hội chợ xuân trong đó. Người ta đã dựng các quầy hàng đủ loại, các biển quảng cáo đủ thứ. Xuân hết, chợ tàn, Văn Miếu đầy rác rưởi. Người ta cần tiền tiêu, cha ông họ, những tiến sĩ trong Văn Miếu có còn sống đâu, còn như chúng ta thì có quyền gì với họ! Tưởng rằng đã hết những chuyện đau lòng, nhưng mới năm ngoái thôi (1992) một tờ báo văn nghệ của một hội TW đã đăng ảnh một cô gái ngồi lên đầu của một bia tiến sĩ Văn Miếu. Họ đã đặt cái đẹp tinh thần, các thiêng liêng của cha ông, cái tự hào của dân tộc, dưới cái đẹp của người phụ nữ. Họ có nhìn thấy những chân hương thắp ở các hàng bia dầy đặc, họ có thấy sự ngưỡng mộ tôn thờ của bao người Việt Nam đối với cha ông tại nơi đây.
Trong vô số cái đau lòng cũng có nhiều niềm vui, đã có chuyển biến về nhận thức của những người có trách nhiệm đã thành lập một Trung tâm chuyên lo bảo vệ, tu sửa và tôn tạo khu di tích, đã có kinh phí hàng tỉ đồng để sửa chữa, đã ngăn cản được nhiều vi phạm khu di tích, tất cả đã làm cho khách trongvà ngoài nước đến tham quan được tạm yên lòng. Hàng ngày có hàng trăm khách nước ngoài đến thăm Văn Miếu; những nhà văn hoá, nghiên cứu tới tìm hiểu kỹ càng hơn những khách du lịch. Một lần về thăm Văn Miếu, tôi bắt gặp một người phiên dịch nói với một người Pháp: Văn Miếu là ''col1ège'' (trường trung học hay cao đẳng). Không thể giữ phép lịch sự được nữa, vì lòng tự tôn dân tộc, tôi đã nói lại cho người Pháp biết lằng đây là một Trường Đại học Tổng hợp Quốc gia (Université natl-nonale). Người Pháp này đã hỏi thêm tôi về chương trình học tập, việc thi cử, các học vị, các chức vụ mà những người thỉ đậu đã đảm nhận... Sau khi trả lời các câu hỏi trên tôi đã nói cho người này biết là những tiến sĩ có thề được bổ nhiệm giữ các chức trung bộ máy chính quyền, ngày nay
tương đương như chủ tịch tỉnh, thứ trưởng, bộ trưởng, và sau đó có thể lên đến phó thủ tướng, thủ tướng. Người Pháp này hỏi lại: “Như vậy Văn Miếu có phải là một học viện quốc gia hành chính”. Tôi biết mình đã nói thiếu sót nên lại phải nói thêm là các tiến sĩ có tên ghi trên bia ở đây có thể là nhà văn học, nhà sử học và nhà ngoại giao, nhà kinh tế, nhà thơ, nhà quân sự... Tôi đã dẫn ra một số tên như Ngô Sĩ Liên, Lê Văn Hưu, Ngô Thị Nhậm, Lê Quý Đôn... Người Pháp rất hài lòng được hiểu biết về văn Miếu và nước Việt Nam. Ông tỏ lời cảm ơn và đưa tôi tấm danh thiếp, hẹn tôi nếu có dịp sang Pháp, ông sẽ đưa tôi đi thăm các di tích lịch sử ở Paris và thuyết minh cho tôi nghe.Tuy cũng thấy nhẹ nhõm vui vui vì đã làm được một việc có ích giúp cho một người nước ngoài hiểu thêm đất nước ta.
Người khách du lịch đi rồi, chỉ còn lại mình tôi đứng bên hàng bia im lìm dưới nắng trưa. Những hàng bia đá nằm đây lặng lẽ từ mấy trăm năm nay là tinh hoa của núi sông là Văn hiến, là lẽ sống, là khí phách của dân tộc.
Những con chim trên cành muỗm cất tiếng hót véo von phá tan sự tĩnh mịch. Không, không, tôi không “ muốn làm con chim ca hát đâu đây'', nếu còn sức lực xin cho tôi được làm người thuyết minh nơi này để nói cho những đoàn khách du lịch biết về những ông Nghè ở chốn này, biết nền văn hiến của nước Đại Việt chúng ta.
Một lần về thăm Văn Miếu, trong dịp giáp Tết Qúy Dậu, tôi đã gặp vợ chồng chị Dương L. H. Đang lúi húi đọc những dòng chữ trên bia có ghi tên tổ tiên họ Dương quê ở Lạc Đạo, Gia Lâm có 8 người đã đỗ tiến sĩ, được khắc tên trên bia nơi đây. Hai vợ chồng chị đã đứng cạnh các bia có ghi tên tổ tiên để chụp ảnh. Có niềm vui nào sánh được nổi niềm vui của chị vì đó cũng là niềm vui của tôi, cửa mở mỗi người dân Việt Nam. Cạnh niềm vui là nỗi băn khoăn mà tôi đã gặp trên nét mặt của một người đã đứng tuổi. Ông cho tôi biết ông là dòng dõi tiến sĩ Nguyễn Như Uyên, quê ở làng Cót, Huyện Từ Liêm, có tên trong sử sách mà nay bia không còn. Ông cho biết dòng họ cũng đã cho một cán bộ văn hoá mượn gia phả và họ cũng đã để mất không còn. Ông gặp tôi và cầu khẩn nhờ tìm những chi tiết về ông Nghè Nguyễn Như Uyên. Tôi rất thông cảm với mong muốn của ông song cũng phải nói với ông rằng việc đó thật khó như đáy bể mò kim vậy. Ra về lòng tôi đầy ưu tư nghĩ ngợi, sau đó lai là niềm vui nho nhỏ, vì con cháu Việt Nam đã tìm đến ông cha cội nguồn.
Mùa xuân nào, Tổng thống Pháp F. Mít trăng, tổng thống đầu tiên của nước Pháp và cũng là của châu Âu đã đến việt Nam và đi thăm hai nơi làvăn Miếu và Điện Biên Phủ. Hai nơi mà tổng thống Pháp đến thăm thật nhiều ý nghĩa, một nơi là tinh hoa, tinh thần, đạo đức, học thuyết rường cột quốc gia, một nơi là sức mạnh thần kỳ của truyền thống dân tộc, của ''đại nghĩa thắng hung tàn''. Người Pháp đã có quan hệ với Việt Nam hơn trăm năm nay, lại có một khoảng cách mấy chục năm để suy ngẫm, há chẳng đã làm một việc đầy tự tin, khẳng định sự hiểu biết của mình về dân tộc ta dó sao? Trong quá khứ, người Pháp cũng đã có góp phần giữ gìn những tấm bia tiến sĩ ở Văn Miếu được nguyên vẹn để đến mùa xuân này, tổng thống Pháp mới có dịp đến đây để chiêm ngưỡng. Mọi người khách đã ra về, buổi trưa im lìm, chỉ còn những con rùa mang trên mình những tấm bia đã mấy trăm năm nay vấn nghển cổ như muốn nói gì với bao thế hệ đời sau. Một câu ca dao cũ hiện lên: ''Thương thay thân phận con rùa. Xuống sông đội đá lên chùa đội bia''. ''Thân phận con rùa'' ở những nơi khác, tôi chưa suy nghĩ, song những con rùa trong hàng tứ linh (long, li, quy, phượng) đội bia tiến sĩ ở đây, đã đội lịch sử văn hiến mấy trăm năm của nước Đại Việt trên mình, tôi thấy nó thật vẻ vang làm sao! Tôi như thầm ghen với những con vật vô tri kia, hãy nhường cho thế hệ con cháu Việt Nam hôm nay đội những bia tiến sĩ đó để tỏ hết lòng ngưỡng mộ, tôn kính, tự hào và biết ơn những người đã làm nên nền văn hiến của đất nước này. Và nếu như cần làm một cuộc hành trình vòng quanh trái đất, dương cao những tấm bia tiến sĩ lịch sử đó, tôi tin chắc sẽ có hàng triệu con cháu Việt Nam ở cả trong và ngoài nước đi theo.
Mỗi lần về thăm Văn Miếu, tôi lại thấy mình vui lên, khoẻ mạnh lên như đã khám phá thêm ra những điều gì mới. Mảnh đất thần thánh này chứa đựng biết bao nhiêu điều thiêng liêng, bao nhiêu sức mạnh tiềm ẩn, tổ tiên vẫn để đấy, mà nhiều năm, con cháu có tội vì chưa tìm ra. Nó là vô hình, không, nó là cụ thể, chỉ khi nào tội mỗi người tự vươn mình lên nhận thức được, tìm ra mình, thì cũng là tìm ra điều quý giá bí ẩn kia. Về thăm Văn Miếu, chính thật là hành hương trở về cội nguồn, trở về với tinh hoa, trở về với truyền thống dân tộc, trở về với chính đạo lý, trở về với chính mình, làm cho tâm linh mình thêm trong sáng. Về thăm Văn Miếu, về với Việt Nam.
Nguyễn Hải @ 14:47 25/01/2011
Số lượt xem: 399
- VĂN MIẾU – QUỐC TỬ GIÁM, CÕI TÂM LINH CỦA ĐẠO LÀM NGƯỜI (25/01/11)
- CÁC NGUYÊN THỦ QUỐC GIA ĐẾN THĂM VÀ NÓI VỀ VĂN MIẾU QUỐC TỬ GIÁM (25/01/11)
- CÁC ĐÌNH ĐỀN THỜ CHU VĂN AN Ở HÀ NỘI (25/01/11)
- NHỮNG MẨU CHUYỆN VỀ GƯƠNG HỌC TẬP NĂM ANH EM RUỘT ĐỖ TIẾN SĨ TRONG BỐN KHOA LIỀN (25/01/11)
- SÁU NGƯỜI THỜI LÊ KHÔNG NHẬN ĐỖ TIẾN SĨ (25/01/11)
Các ý kiến mới nhất