Gốc > Đất nước Việt Nam > Nếp sống văn hóa Việt > Văn hóa các Dân tộc Việt Nam >

DÂN TỘC CHỨT

DÂN TỘC CHỨT

Địa bàn lũng, chủ yếu thuộc hai huyện Minh Hóa và Bố Trạch tỉnh Quảng Bình, gồm có các nhóm địa phương như: Mày, Rục, Sách, Mã Liệng và ARem sống xen kẽ với người Việt và người Bru tại các xã Dân Hóa, Thượng Hóa, Hóa Sơn (huyện Minh Hóa) và Tân Trạch (huyện Bố Trạch).

Trong số các nhóm người Chứt cũng có các tôn giáo khác nhau: Tu Vang, Pa Leng, Chứa, Xơ Lang, Tơ Lung Arem, nhưng họ đều tự gọi mình là Chứt, Nhà Chứt (người ở lèn đá, núi đá). Chứt ngày nay đã trở thành tên gọi phổ biến của một tộc danh với dân số khoảng 2619 người, tiếng nói thuộc ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á).

Theo một số nguồn sử liệu và một số cụ già người Chứt kể lại rằng tổ tiên của họ khi xưa vốn ở địa bàn thuộc hai huyện Bố Trạch và Quảng Trạch tỉnh Quảng Bình, vì nạn giặc giã, thuế khóa nặng nề của chế độ phong kiến, nên họ phải bỏ chạy lên nương náu ở vùng rừng núi phía tây. Còn theo người Việt hiện đang cư trú ở huyện Minh Hóa kể lại thì khi tổ tiên họ đến đây sớm nhất là vào giữa thời Hồng Đức (1470 - 1495) đã thấy người Sách và người Rục (trong số các nhóm địa phương người Chứt) có mặt ở đây từ trước, cách ngày nay hơn 500 năm.

Với địa bàn cư trú là núi cao hiểm trở, thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám (1945), người Chứt phải sống bằng nương rẫy, du canh và săn bắn, hái lượm, còn lao động sản xuất theo mùa mưa và mùa khô. Mùa khô thì trồng ngô, khoai, sắn, đỗ và thuốc lá, việc phát đốt gieo trồng các loại cây nói trên kéo dài từ tháng chạp năm trước đến tháng giêng năm sau, đến tháng  thì thu hoạch. Các loại cây trồng theo thời vụ như: Ngô, đỗ, thuốc lá; còn tháng 8 thì thu hoạch sắn, khi mùa mưa thì chỉ trồng lúa và ngô, còn việc làm nương đốt rẫy, trồng trọt làm trong tháng 4 hoặc tháng 5, cho tới tháng 8 thì thu hoạch ngô, tháng 10 và vụ thu hoạch lúa.

Công cụ lao động còn đơn giản và thô sơ, chỉ có rìu hay rựa để phạt rẫy, chiếc gậy để chọc lỗ trả hạt. Thực hiện đường lối về chính sách dân tộc của Đảng, và sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước đối với miền núi trong phong trào vận động định canh định cư, người Chứt đã áp dụng khoa học kỹ thuật vào khâu gieo trồng, nuôi trâu, bò để dùng làm sức kéo, dùng cày để làm luống và làm nương rẫy.

Trước đây, nền sản xuất nông nghiệp của người Chứt do trình độ kỹ thuật thấp kém, công cụ lao động lại thô sơ lạc hậu nên hoa màu, giống cây trồng luôn bị thú rừng tàn phá, đất canh tác lại ít nên không đủ cung cấp lương thực ăn cho một năm, mỗi năm chỉ bảo đảm đủ ăn từ 6 đến 7 tháng. Những khi giáp hạt thiếu đối, người Chứt phải vào rừng tìm các loại cây có bột mọc hoang sơ như thân cây nhúc (cây báng) hoặc đào khoai dại, củ mài để sống qua ngày.

Nguồn thức ăn chính của người Chứt do săn bắn hái lượm, thực phẩm dồi dào như nấm hương, măng, mộc nhĩ, các loại rau rừng, bổ sung cho các bữa ăn hàng ngày. Săn bắn chủ yếu là các loại thú nhỏ như khỉ, cầy, cáo, nhím v.v. . . trong đó đặc biệt là khỉ.

Người Chứt săn bắn thú bằng nỏ (có tẩm thuốc độc và tên thường). Nếu đi săn tập thể, họ còn dùng cả chó để săn tìm thú. Dùng bẫy và một phương thức bắt lất lợi hại, có các loại bẫy thú lớn gồm bẫy đò ho, bẫy vòng, các loại bẫy thú nhỏ gồm bẫy tren (một loại kẹp), cừ tít (một loại cạm) ngoài các loại bẫy cạm còn có loại kháo (đùng để bẫy nhím, chim, chuột v.v. . .).

Người Chứt có tinh thần cộng đồng rất cao trong việc phân phối sản phẩm lao động. Khi đi săn bắn được thú rừng loại to như hổ, hươu, nai, báo, lợn rừng, người trực tiếp săn bắn được thú, cũng chỉ nhận được đầu và thịt nhiều hơn, phần còn lại đem chia hết cho những người cùng tham gia buổi đi săn đó, cũng dành phần chia cho những gia đình hàng xóm lân cận. Đó là một tập tục đẹp, cho đến ngày nay vì sự nghiệp bảo vệ môi trường, bảo vệ động vật quý hiếm, người Chứt đã tự nguyện không săn bắn thú rừng nữa, hầu hết nghề này không phát triển. Công cụ hái lượm của người Chứt cũng rất đơn giản, họ dùng rìu, rựa để chặt nhúc, lấy rựa cùn mài nhọn, hay cây gỗ vót nhọn để đào củ rừng. Công cụ bắt cá dùng loại cần câu thường, cần câu bẫy, mấy năm gần đây còn xuất hiện thêm chài lưới, ngoài ra họ còn dùng cách tát cạn, hoặc thả lá độc để bắt cá bằng tay ở ven sông ven suối.

Trong mọi công việc, lao động được phân công theo tuổi tác và giới tính. Trong sản xuất nông nghiệp, đàn ông chặt, phát cây và đốt rẫy, chọc lỗ để tra hạt, còn đàn bà làm phần việc nhẹ hơn như: Tra hạt lấp đất, thu hoạch mùa màng, hái lượm.

Do tập quán cổ truyền trước kia của người Chứt, cuộc sống phải du canh du cư, nay đây mai đó lang thang nghèo đói, nhà ở là những túp lều tạm bợ hoặc trong các hang đá, núi đá cho mãi đến khi sống định canh định cư, nhóm người Mày và Arem mới làm nhà ở như kiểu nhà của người Bru, còn nhóm người Sách, Mã Liệng và Rục làm nhà theo kiểu của người Việt ở quanh vùng.

Thời trước, trang phục của người Chứt rất thô sơ, mùa hè đàn ông đóng khố cởi trần, đàn bà thì mặc váy; mùa đông lấy cỏ cây đập dập phơi khô khâu thành áo mặc để chống rét. Cho tới khi sang định canh định cư, người Chứt mới có đủ quần áo để mặc. Hiện nay, các nhóm người Sách, người Rục, người Mã Liệng mặc giống người Việt, còn nhóm người Mày và Arem mặc giống người Bru.

Gia đình của người Chứt là tiểu gia đình phụ quyền, người con trai khi thành lập gia đình đều ở riêng, ít có trường hợp ở rể, nếu có chỉ là hãn hữu vì gia đình nhà vợ không có con trai mà thôi.

Đơn vị xã hội của người Chứt là Ca Vên (làng) gồm có các dòng họ khác nhau nhưng cùng cư trú, mỗi Ca Vên có khu vực sinh sống làm ăn riêng. Đất và rừng của Ca Vên nào được quyền khai thác, cai quản của Ca Vên ấy. Các thành viên trong Ca Vên được quyền khai thác đất đai để sử dụng vào mục đích canh tác, người ngoài muốn làm ăn sinh sống trên đất của Ca Vên, nhất thiết phải được sự đồng ý của Ca Vên.

Đứng đầu mỗi Ca Vên là Pừ Ca Vên và các già làng, bàn bạc giải quyết các công việc có liên quan đến đời sống tinh thần và vật chất của Ca Vên như việc cúng Iễ, ăn mừng được mùa, hòa giải dàn xếp những xích mích, mâu thuẫn trong nội bộ Ca Vên, xem xét giải quyết người ngoài xin vào làm ăn sinh sống trên đất của Ca Vên quản lý. Pừ Ca Vên được coi như bố của Ca Vên (bố của làng), chủ trì các công việc cúng bái của Ca Vên.

Về tôn giáo tín ngưỡng của người Chứt bao gồm các lễ nghi nông nghiệp như thờ cúng tổ tiên, vua bếp, thổ công cùng rất nhiều các tục lệ kiêng ky trong đời sống sinh hoạt như sinh đẻ, tang ma v.v. . .

Người Chứt có đời sống văn hóa tinh thần đậm nét, với các loại nhạc cụ đàn tro bon, đàn môi, sáo dọc; có nhiều đàn điệu dân ca cà tum cà lềnh, kể truyện nhà giáo) là một hình thức văn nghệ được phổ biến trong sinh hoạt cộng đồng, truyện kể về buổi khai sinh lập địa, kể về đèo Mụ Gia, về các sự tích sinh ra các dân tộc anh em ở trong vùng, những thể loại văn nghệ dân gian này rất được mọi người trong cộng đồng người Chứt ưa thích.

Căn cứ trên các dữ liệu và cơ cấu kinh tế trong thiết chế xã hội, tôn giáo cũng như truyền thuyết, ký ức về nơi cư trú của người Chứt đã giúp chúng ta có thể dễ nhận thấy, họ vốn trước đây là cư dân nông nghiệp, bị bọn phong kiến trước đây dồn ép xô đẩy một bộ phận người phải sống ở vùng rừng núi hẻo lánh cách biệt với xã hội bên ngoài, nên đời sống kinh tế văn hóa xã hội bị thoái hóa, dân số ngày càng giảm sút vì thiếu ăn, bệnh tật, có nguy cơ bị diệt vong.

Đứng trước nguy cơ đó, người Chứt đã được Đảng, Nhà nước quan tâm, chỉ sau ngày hòa bình lập lại (năm 1954), các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương đã nhanh chóng giao nhận ruộng đất và đưa họ vào sống định canh định cư ở vùng sâu cũng như trong các thung lũng, thành lập các hợp tác xã, trường học, trạm y tế.


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 13:34 21/02/2011
Số lượt xem: 441
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến