DÂN TỘC BỐ Y
Người Bố Y Cư trú ở nước ta gồm có hai nhóm địa phương, nhóm cư trú ở huyện Quản Bạ (Hà Giang) vẫn được gọi là Bố Y (nhóm này có dân số ít hơn), còn nhóm cư trú ở hai tỉnh Yên Bái và Lào Cai được gọi là Tu Di (nhóm này có dân số đông hơn). Nhóm Bố Y hiện nay vẫn duy trì tiếng nói mẹ đẻ của mình, còn nhóm Tu Di phải dùng tiếng Hán để quan hệ giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày.
Tổ tiên của người Bố Y khi xưa ở Trung Quốc đã di cư sang nước ta cách ngày nay khoảng từ 100 năm đến 150 năm, có các tên gọi khác Chủng Chả, Trong Gia. Bố Y là tên tự gọi với dân số khoảng 1.526 người. Nhóm Bố Y nói ngôn ngữ Tày – Thái ngữ hệ Thái - Ka Đai, nhóm Tu Di nói ngôn ngữ Hán, ngữ hệ Hán Tăng.
Người Bố Y nguyên trước đây là cư dân chuyên làm ruộng nước rất giàu kinh nghiệm trong sản xuất nông nghiệp, khi di cư đến một vùng đất mới ở nước ta, họ phải chuyển sang canh tác bằng nương rẫy. Do địa bàn cư trú của họ ở vùng núi cao, ít có điều kiện làm ruộng nước. Lúa nương mỗi năm chỉ trồng có một vụ, với diện tích cấy không được nhiều, chính vì thế mà vai trò của cây ngô đã trở thành cây lương thực chính. Ngô xay nhỏ, đem luộc gần chín một phần hai, rồi mới đổ ngô vào chõ đồ lên cho chín được gọi là ''mèn mèn''. Cũng nhiều khi mèn mèn được đồ lẫn với gạo thành món ăn hàng ngày như cơm tẻ của người Việt).
Ngoàl cây lúa, cây ngô, người Bố Y còn trồng cây lương thực phụ như: Sắn, khoai lang và dong riềng. Công cụ để lao động ngoài việc dùng cuốc, dùng dao, dùng cày bừa dựa vào sức kéo của trâu, ngày nay rất phổ biến. Theo nông lịch canh tác của người Bố Y, mỗi năm chỉ có gieo trồng một vụ, tháng giêng dọn rẫy làm nương, tháng hai, tháng ba trồng ngô gieo mạ, tháng tư, tháng năm cấy lúa, cây ngô thu hoạch vào tháng bảy, tháng tám, mùa lúa gặt vào tháng chín tháng mười âm lịch.
Trước kia, người Bố Y không biết dùng phân để bón cây trồng, mà quen cách phơi ải đất, khi nào cây lúa chắc hạt mới tháo nước đi, đến khi gặt lúa xong cứ để nguyên như vậy đến mùa sau lại đưa nước vào ruộng cấy. Thông thường họ cấy xong trước Tết Nguyên Đán, rồi lại tiếp tục ngâm đất sau đó lại bừa lần thứ hai để chuẩn bị cho vụ cấy năm sau. Sở dĩ họ phải làm như vậy để cho cây lúa mau sinh trưởng, không có hạt thóc lép, năng suất lại cao.
Người Bố Y biết chọn giống tốt, bảo quản từ khâu gieo mạ, có kỹ thuật cao, áp dụng và thích nghi môi trường sinh trưởng ở miền núi. Những năm gần đây họ dã thu hoạch đạt được sản lượng trên ba tấn một héc ta đối với lúa tẻ, bốn tấn một hécta đối với lúa nếp. Những năm thời tiết thuận hòa, sản lượng đạt tới bốn tấn một hécta đối với lúa tẻ cũng không phải là hiện tượng hiếm.
Gia đình người Bố Y nào cũng có một mảnh vườn gần nhà để trồng bầu, bí, rau, đậu, lạc vừng để làm thức ăn, ngoài ra còn làm công việc săn bắn hái lượm lâm thổ sản, cung cấp bổ sung cho nguồn thực phẩm đáng kể như: Nấm hương, mộc nhĩ, măng tươi, rau xanh, thú rừng, chim, cá v.v. .. giúp cho các bữa ăn hàng ngày được cải thiện.
Ngoài việc tăng gia sản xuất gieo trồng cây lương thực người Bố Y còn chăn nuôi nhiều loại gia súc gia cầm như: Trâu, bò, dê, lợn, vịt, gà, ngan, ngỗng, thả cá trong ao. Có thể nói gia đình nào cũng có vườn trồng cây, ao thả cá, cứ đen mùa mưa họ lại ra sông vớt trứng cá về thả ở ao nhà. Khi trứng nở, đàn cá con được thả một phần ở ruộng nước, một phần thả ở ao. Nguồn cá thịt nói trên cũng chỉ đủ dùng vào những việc hiếu, việc hỉ, cúng lễ, tuần tiết và ngày Tết hàng năm. Gia đình nào cũng có một con trâu để cày bừa, một con ngựa để vận chuyển và đi lại
Trước đây, nhiều người Bố Y biết làm đồ gốm, đồ đá, chạm bạc, mộc, rèn, nhưng nhiều năm trở lại đây họ tập trung chú trọng vào việc sản xuất lương thực và chăn nuôi gia súc gia cầm. Những ngày không phải lên nương, phụ nữ ở nhà kéo sợi dệt vải, khâu may quần áo, thêu khăn, thêu y phục v.v. . .
Người Bố Y ở nhà đất khung gỗ hoặc tre khá vững chắc, cấu trúc theo kiểu nhà người Việt ba gian hai trái mái vuông, xung quanh trình tường, lợp bằng cỏ gianh phía trước có hàng hiên. Hiện nay có nhiều gia đình đã thay mái gianh bằng mái ngói, nhà có hai cửa ra vào, cửa chính ở gian giữa, cửa phụ ở thầu hồi, thỉnh thoảng cũng xuất hiện thấy có nhà có hàng hiên bốn mặt, cửa phụ dùng để xuống bếp đun nấu, trên nhà có hai cửa sổ trông ra hàng hiên để thoáng mát chống được ẩm ướt của vùng núi cao quanh năm sương mù bao phủ.
Đặc điểm nhà ở của người Bố Y là nhà nền đất nhưng nhà nào cũng có gác xép lưng chừng dùng làm nơi bảo quản cất giữ thóc gạo, ngô khoai, sắn, lạc vừng và là nơi ngủ của thanh niên chưa vợ.
Nơi ở của người Bố Y thường quần tụ bên bờ suối trên sườn hồi hay trong thung lũng, nhưng nền nhà tôn cao, xóm ít nhất cũng có từ mười đến mười lăm nhà, xóm nào đông thì ba, bốn chục nhà.
Vào khoảng những năm 1850 đến 1855 của thế kỷ XIX, nhiều bộ phận của các ngành Bố Y xuất phát từ những địa phương khác nhau ở Trung Quốc đã lấn lướt di cư vào nước ta bằng những con đường khác nhau. Trong một hoàn cảnh biến đổi về mặt văn hóa trong quá trình di cư, xã hội người Bố Y có sự phân hóa giai cấp ngay trong một đồng tộc, có kẻ giầu người nghèo. Khi đến nước ta, họ đã đoàn kết đề cao tính dân tộc thống nhất, đấu tranh chống thiên nhiên, chống giai cấp thống trị, bóc lột ở địa phương nơi mới đến. Dưới chế độ thực dân phong kiến chúng đặt ra bộ máy hành chính để cai trị như Lý trưởng, phó tổng là người Nùng, chỉ có trưởng bản (pín thàu) và một người giúp việc cho trưởng bản (xeo phái) là người Bố Y, địa vị của họ rất thấp kém.
Thực dân Pháp chia Quản Bạ ra làm hai khu vực hành chính gọi là Miện, gồm Đại Miện và Tiểu Miện, nơi cư trú của người Bố Y thuộc khu Tiểu Miện, đứng đầu khu vực Tiểu Miện là một chánh tổng người Tày, phó tổng người H'mông và người Dao. Cho đến năm 1938, thực dân Pháp lại lập ra bang tá ở đồn Quản Bạ, dưới sự chỉ huy của bang tá có cả một tiểu đội hình cơ (lính địa phương) dể đàn áp kìm kẹp người Bố Y ở vùng Tiểu Miện.
Xã hội cổ truyền của người Bố Y xa xưa, do bộ máy nhà nước phong kiến lập ra, đứng đầu mỗi làng có Páo tả mia, một thầy cúng giỏi về địa lý, tinh thông phong tục tập quán tín ngưỡng, am hiểu giầu kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp. Páo tả mua không phải là chức dân cử, nhưng thực sự là người có tài năng, mẫu mực về phẩm chất đạo đức được dân làng thừa nhận.
Ngày nay vẫn còn hiện tượng người Bố Y gọi thầy cúng bằng Pầu mua hay Páo mua, nhưng họ không đủ những chức năng như Páo tả mua trong xã hội cổ truyền khi xưa.
Người Bố Y có các dòng họ như: Lỗ (Lồ), Lục (Lù), Dương (Zang), Ngũ (Ngũ hay U), Vũ (Vù), Vị (Vầy), Phan (Phán). Mỗi dòng họ đều có một chu kỳ chữ đệm (chữ lót) theo một trật tự đã được quy định trước.
Gia đình của người Bố Y là gia đình nhỏ phụ quyền, người cha quyết định mọi công việc lớn trong nhà như việc dựng vợ gả chồng cho con cái, di chuyển chỗ ở làm nhà mới, chọn nơi phát nương làm rẫy, bán ngựa, mua trâu, tổ chức cúng bái. Bàn thờ trong nhà đặt ở gian giữa, bên cạnh là chỗ ngủ của người gia trưởng. Chỗ ngủ của phụ nữ là ở hai gian bên. Trên gác lửng chỉ dành cho con trai chưa vợ và những bạn bè thân nhân nam giới ngủ lại qua đêm. Đó là mẫu gia đình có tính chất truyền thông của người Bố Y. Thường là tồn tại ba thế hệ, trong bữa ăn gồm có ông bà, vợ chồng ngồi cùng mâm, khi con trai đến tuổi trưởng thành lấy vợ, cha mẹ làm nhà cho ở riêng.
Người Bố Y không có chữ viết riêng, họ dùng chữ Hán ghi chép những bài cúng lễ, viết bài vị gia phả làm lá số v.v... Đối với lớp trẻ ngày nay, ít người biết chữ Hán, chỉ còn một số người già biết chữ Hán do trước kia làm thầy cúng, đại bộ phận người Bố Y đã dùng tiếng phổ thông và chữ quốc ngữ để giao dịch, tiếp xúc bằng các văn bản hành chính với nền văn hóa chung của đất nước.
Người Bố Y có một phần văn hóa dân tộc, nhưng dân số ít, họ lại sớm tiếp cận và hòa nhập với nhiều dân tộc anh em miền Tây Bắc của Tổ quốc cho nên những lời hát điệu khèn, bài ca dao, câu tục ngữ, những sự tích, câu chuyện kể dân gian, đến các hoa văn khắc trên công cụ, hoa trang trí thêu trên túi là thể hiện thẩm mĩ tình cảm chung của nền văn hóa các dân tộc miền Tây Bắc.
Người Bố Y có truyền thống đấu tranh giữ nước. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cùng với nhân dân vùng Quản Bạ, người Bố Y đã hăng hái tích cực tham gia nghĩa vụ dân công, làm đường giao thông tiếp tế lương thực vận chuyển vũ khí trong chiến dịch biên giới làm cơ sở giúp đỡ công an, bộ đội ta tiễu phỉ tại Hà Giang năm 1956. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ có nhiều người tham gia công tác quản lý trong các cơ quan quản lý nhà nước từ cấp huyện cấp tỉnh có nhiều người là con em người Bố Y chiến đấu ở tiền tuyến cho đến ngày thống nhất Tổ quốc.
Từ hơn một thế kỷ qua, người Bố Y đã thật sự gắn bó với mảnh đất này, là cộng đồng của đại gia đình Tổ quốc Việt Nam, đã chứng kiến bao sự kiện biến đổi, thăng trầm to lớn của đất nước từ Cách mạng Tháng Tám đuổi Nhật, trừ phong kiến, đến đánh Pháp, đánh Mỹ thu non sông về một mối, cho đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Người Bố Y không sợ hi sinh gian khổ sẵn sàng bảo vệ vùng biên cương và quê hương miền Tây Bắc thân yêu.
Các ý kiến mới nhất