DÂN TỘC LÀO
|
DÂN TỘC LÀO Người Lào Cư trú ở nước ta dọc biên giới Tây Bắc, đã thấy xuất hiện những bản người Lào tập trung ở các huyện Sông Mã (tỉnh Sơn La). Người Lào có nguồn gốc từ Lào di cư sang Việt Nam đã lâu, họ sống thành những bản riêng hoặc sống xen lẫn với người Thái, người Lự. Người lào thuộc nhóm Lào Bốc (Lào Cạn) hay Lào Nói ( Lào nhỏ) họ gần với người Thái hơn. Người Lào còn có những tên gọi khác: Phu Thay, Phu Lào. Tên tự gọi Thay, Thay Dồn, Thay Nguồn với dân số khoảng 9.816 người, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, ngữ hệ Thái - Ka Dai. Trong cuộc sống sinh hoạt người Lào có những nét cơ bản giống người Thái và người Lự, nhưng vẫn thấy có những nét mang bản sắc văn hoá độc đáo riêng. Người Lào là quần thể cư dân làm ruộng nước, kỹ thuật canh tác và gieo trồng giống như người Thái, cũng có nơi quen với việc làm ruộng rẫy. Riêng lĩnh vực làm ruộng nước của người Lào, đã đạt tới trình độ khá cao, xây dựng cả một hệ thống thuỷ nông quy mô, dẫn thoát nước tưới tiêu cho đồng ruộng, với nhiều công cụ cày, cuốc, liềm, hái, dao phát nương. .. Người Lào có nghề phụ trong gia đình rất phát triển như nghề sản xuất đồ gốm có bàn xoay độc đáo, sản phẩm bao gồm chum, vại, vò, chõ nồi có kỹ thuật bền đẹp. Có trình độ dệt thổ cẩm đẹp có chất lượng cao, có thể so sánh ngang tầm với người Thái; nghề rèn sản xuất công cụ và đồ dùng trong gia đình, hầu như ở bản nào cũng có nghề rèn tính chất tự cung tự cấp, tự sản tự tiêu; nghề chạm bạc đã đạt tới trình độ tinh xảo, góp phần làm cho cuộc sống phong phú và sung túc hơn. Người Lào theo nghề đánh bắt cá, do đặc điểm sống ở gần vùng sông suối đã cung cấp cho họ một lượng cá đáng kể, bổ sung thêm cho bữa ăn hàng ngày, ngoài ra còn nghề làm mắm cá (pà dọc) đã rất nổi tiếng từ lâu, được nhiều du khách phương xa mua về làm quà. Người lào có nền sản xuất ổn định, kinh tế phát triển giàu có. Bản của người Lào khang trang đẹp đẽ và trù phú đông đúc. Có bản như Mường Và cư tụ hơn một trăm nóc nhà. Nơi ở của người Lào với ngôi nhà rộng lòng, mái cao thoáng đãng, một kèo được chạm trổ tinh vi, có làm bàn thờ Phật. Trang phục của người Lào, phụ nữ mặc gần giống với người thái, chỉ có khác là chiếc khăn Piêu chít nhọn đầu như phụ nữ Lào ở huyện Sông Mã, hoặc thắt theo kiểu người phụ nữ Lự, đuôi khăn thả thõng xuống một bên vai. Khi không chít khăn thì họ ưa cài trâm bạc, váy màu đen thắt cao, gấu thêu chỉ màu. Phụ nữ thích xăm ở mu bàn tay hình rau bợ, nam giới thì thích xăm ở bàn tay hình chữ ''vạn'' của nhà Phật, xăm ở đùi hình động vật (riêng nhóm người Lào Nậm chỉ xăm trên mình). Người Lào nói chung ưa hút thuốc lá bằng tẩu, có chạm khắc các hình rất đẹp. Người Lào sống ở nước ta xưa kia, theo hệ thống tổ chức hành chính phong kiến của người Thái, tự cai quản bản mường. Các dòng họ đều có tục kiêng cấm giống người Thái mặc đầu dầu đình lớn hay nhỏ đều mang tính phụ quyền, trong gia đình rất coi trọng quyền của người phụ nữ, ít có những sự mâu thuẫn, bất hoà xảy ra trong quan hệ gia đình của người Lào. Cha mẹ có nghĩa vụ chăm sóc, thương yêu nuôi dạy con cái, không phân biệt trai hay gái đều được đối xử bình đẳng. Người lào theo chế độ hôn nhân một vợ một chồng bền vững, vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu nhau theo nguyên tắc hôn nhân thuận chiều, không có tục lệ hôn nhân với anh em chồng và hôn nhân với chị em vợ, ít có trường hợp đa thê, ly hôn hay ngoại tình, người Lào cũng hiếm có trường hợp kết hôn với người dân tộc khác. Tập quán làm ma chay khi có người chết của người Lào, chỉ thiêu xác đối với những người đứng đầu mỗi bản, hay một mường (chẩu nường hoặc chẩu bản) sẽ do người chẩu hua chủ trì buổi lễ đốt xác với nhiều nghi thức phức tạp có tính chất tôn giáo đã được địa phương hoá, còn đậm nét của Phật giáo. Người Lào hiện nay không còn giữ tạp quán tôn giáo theo đạo Phật. Những cây tháp và những ngôi chùa thì vẫn còn ở mỗi bản, mỗi mường, tiêu biểu là kiến trúc cây tháp ở xã Mường Luân huyện Điện Biên Đông (tỉnh Lai Châu) chỉ còn có ý nghĩa một di tích phật giáo của một thời quá khứ xa xôi, chỉ còn giữ chức năng giống như một ngôi đình của người Việt, hoặc chiếc cột mường, cột bản của người Thái. Người Lào thời xưa đi lễ chùa nay chỉ còn thấy tục đi lễ cầu mùa. Người Lào coi ông chẩu hua như ông mo mường, do ảnh hưởng của đạo Phật có từ mấy trăm năm trước, nên lễ vật chỉ có bằng hoa quả, không có vật hiến sinh và ngày rằm và ba mươi hàng tháng, mọi người đến tháp để dâng lễ, các tín ngưỡng dân gian vẫn được duy trì. Trong các hội Lào có nhiều dòng họ và tên gọi giống các dòng họ Thái, những họ chính có họ Lò, họ Vi, họ Lường, họ Ca, với những thủ tục kiêng kỵ giống y như các dòng họ Thái cùng tên. Mỗi một dòng họ có nhiều gia đình nhỏ. Thời xưa gia đình lớn rất phổ biến trong xã hội người Lào, hiện nay chỉ còn thấy xuất hiện ở những vùng xa xôi hẻo lánh. Các gia đình nhỏ lại chiếm ưu thế ở những vùng làm rừng nước, quyền quyết định trong gia đình tập trung vào người chồng, như việc đãi khách quan hệ giao tiếp với bản mường, người phụ nữ quán xuyến việc nội trợ, công việc trong gia đình người nào thì việc ấy, phân công theo tập quán phù hợp với lứa tuổi. Người Lào với bản chất đôn hậu, hiền lành nên ít xảy ra xích mích cãi cọ lẫn nhau, giữa những người thân trong gia đình, mọi người sống vui vẻ hòa thuận. Người Lào có cả một kho tàng văn nghệ dân gian rất quý báu, trong bản có mo lắm là người giỏi chữ nghĩa, biết nhiều truyện cổ tích, nhiều truyện huyền thoại và dân ca. Nội dung trong nhiều truyện kể do ảnh hưởng của giao lưu văn hóa giữa người Thái và người Lào, có nhiều sách viết trên lá cọ, ghi lại những câu chuyện tổ tiên khi xưa đi lập nghiệp, những câu chuyện tình cảm động, những điệu hát khắp trữ tình, điệu múa năm vông của các cô gái Lào hát hay múa giỏi, cả những bài hát và điệu múa xòe của người Thái, nhưng vẫn không mất đi những vẻ đẹp và bản sắc văn hóa riêng. Người Lào rất có ý thức về dân tộc, đối với Tổ quốc Việt Nam và quê hương yêu quý của mình, sẵn sàng hi sinh chiến, đấu để bảo vệ vùng biên cương Tổ quốc, chống những hoạt động biệt kích và âm mưu phá hoại của những thế lực thù địch từ bên ngoài, điển hình là xã Mường và xã Mường Lạng, được tuyên dương là địa phương có phong trào giữ vững an ninh, chính trị ở vùng biên giới trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Đông đảo thanh niên Lào đã tòng quân giết giặc, phụ nữ tham gia dân công vào đội thanh niên xung phong hỏa tuyến phục vụ chiến đấu. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, người Lào đã phát huy truyền thống chống giặc ngoại xâm của tổ tiên họ khi xưa, tham gia cùng với người Việt chống quân Xiêm xâm lược thế kỷ thứ XVIII - XIX và hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hoàng Công Chất. |
Nguyễn Hải @ 13:50 21/02/2011
Số lượt xem: 1284
- DÂN TỘC GIẤY (21/02/11)
- DÂN TỘC SÁN CHAY (21/02/11)
- DÂN TỘC NÙNG (21/02/11)
- DÂN TỘC THÁI (21/02/11)
- DÂN TỘC TÀY (21/02/11)
Các ý kiến mới nhất