DÂN TỘC TÀY
DÂN TỘC TÀY
Người Tày là một quần thể cư dân sống lâu đời ở miền Tây Bắc nước ta, cư trú trên một địa bàn rất rộng từ tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Điện Biên, Sơn La, Lào Cai, Yên Bái, Quảng Ninh và Phú Thọ. Mặc dầu người Tày sinh sống trên một địa bàn rất rộng như vậy, nhưng họ lại là một dân tộc thuần khiết, có tính chất thống nhất và ý thức dân tộc cũng cao nhất. Người Tày có các nhóm địa phương như: Thổ, Ngạn, Phẻn, Thu Lao và Pa Dí. Tên gọi khác là Thổ, Tày là tên tự gọi. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, ngữ hệ Thái - Ka Đai với dân số khoảng 1.365.254 người.
Người Tày có mặt ở Việt Nam rất sớm, ngay từ buổi bình minh của lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.
Người Tày đã sớm đoàn kết chung vai gánh vác chia xẻ cùng với người Việt, đó là sự liên minh giữa hai tộc người Tày cổ và người Việt cổ trong thời kỳ Hùng Vương và thời kỳ lập nên nước Âu Lạc. Người Tày đã tham gia cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng chống quân Tống, đánh quân Nguyên, kháng quân Minh, đuổi quân Thanh, đã từng lập nên chiến công vang dội, có nhiều những tấm gương anh hùng hào kiệt như Nông Văn Lịch, Bế Khắc Thiệu, Hoàng Đại Huế v.v... là những người ưu tú của dân tộc Tày.
Suốt hàng nghìn năm lịch sử, người Tày đã trải qua nhiều cuộc đấu tranh dựng nước và giữ nước. Chỉ tính từ khi bọn thực dân Pháp xâm lược nước ta, người Tày đã kề vai sát cánh cùng với nhân dân cả nước trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam liên tục bền bỉ đấu tranh để giành độc lập tự do cho Tổ quốc. Phong trào hưởng ứng hịch Cần Vương của Tôn Thất Thuyết nổi dậy chống Pháp tại Cao Bằng - Lạng Sơn diễn ra trong những năm 1887 đến 1894, do Hoàng Đình Kinh xây dựng căn cứ địa ở Bắc Sơn, Hữu Lũng, lập phòng tuyến đánh Pháp ở Thái Nguyên năm 1886 đến năm 1890, tham gia nghĩa quân của Hoàng Hoa Thám, ủng hộ phong trào đòi thả cụ Phan Bội Châu, truy điệu cụ Phan Chu Trinh. Do ảnh hưởng của phong trào yêu nước, nhiều thanh niên người Tày đã sớm giác ngộ, đi tìm con đường cứu dân cứu nước. Tiêu biểu cho lớp thanh niên thời bấy giờ (đầu thế kỷ XX) như Hoàng Đình Dong, Hoàng Văn Thụ và Lương Văn Thi. Họ đã trở thành những người cộng sản. Ngay từ khi Đảng mới thành lập, với tinh thần đấu tranh bất khuất kiên cường vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, mãi vẫn là tấm gương ngời sáng cho lớp thế hệ trẻ người Tày và tuổi trẻ cả nước học tập noi theo.
Khi Đảng Cộng sản Đông Dương ra đời, nhiều cơ sở cách mạng được xây dựng từ Việt Bắc. Ngày 1-4-1930 ra đời chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên của người Tày tại Nậm Lìn (Cao Bằng), người Tày có vinh dự cùng với các dân tộc anh em xây dựng khu giải phóng, đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về nước lãnh đạo cách mạng, lập mặt trận Việt Minh, thành lập Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, khai sinh ra Chính phủ lâm thời, là quê hương, cái nôi của cách mạng. Cũng từ ở đó phát ra lệnh tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945. Suốt mấy chục năm trường kỳ kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Việt Bắc là căn cứ địa, là hậu phương vững mạnh, sẵn sàng chi viện sức người sức của cho tiền tuyến. Người Tày đã gửi hàng ngàn thanh niên tòng quân ra mặt trận, thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người, hàng trăm chiến sĩ người Tày đã ngã xuống, hi sinh vì nền độc lập của Tổ quốc Việt Nam.
Người Tày là một trong số cư dân nông nghiệp làm lúa nước ở Việt Nam, có kinh nghiệm và truyền thống lâu đời, lại có đức tính lao động cần cù, giàu đầu óc sáng tạo, lại thêm điều kiện tự nhiên thuận lợi, nền nông nghiệp của người Tày Phát triển rất sớm, trình độ canh tác gieo trồng thời vụ có kỹ thuật cao, trồng nhiều giống lúa, nhiều cây lương thực, hoa màu, các loại cây có củ và các loại cây ra quả, để đảm bảo đủ lượng cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống mỗi năm.
Phương pháp canh tác nông nghiệp của người Tày rất đa dạng và phong phú từ khâu làm đất để ủi, chọn giống gieo mạ, làm cỏ bỏ phân, đến khâu luân canh, xen canh, gối vụ, làm công trình thủy lợi, nên năng suất lúa và các loại cây trồng có sản lượng rất cao. Ngoài các loại cây lương thực chính, người Tày còn trồng các loại cây công nghiệp như: Bông, hồi, thuốc lá trồng dâu nuôi tằm từ lâu đã trở thành một ngành hàng hóa quan trọng, song song với việc đẩy mạnh canh tác nông nghiệp, là khâu phát triển tạo điều kiện cho chăn nuôi gia súc gia cầm, nhiều nơi còn nuôi ngựa, dê, bò vừa làm sức kéo vừa để lấy sữa và ăn thịt, đã đem lại một nguồn lợi kinh tế đáng kể.
Nhiều địa phương người Tày đã áp dụng nuôi cá ruộng, ao, hồ, nuôi ong lấy mật, săn bắt đánh cá, thu, hái lượm lâm thổ sản cũng đem lại giá trị về kinh tế, góp phần cải thiện nâng cao đời sống. Nghề phụ trong gia đình phát triển mạnh: Đan, dệt vải, dệt thổ Cẩm, sản xuất công cụ, làm đồ mộc, dụng cụ gia đình và làm đồ gốm v.v,…
Người Tày sống quần tự thành từng bản, mỗi bản có ít nhất từ 20 gia đình trở lên. Bản nào đông thì đến 60 cho đến 70 gia đình, cũng có bản đông đến hơn 100 gia đình. Cũng có một vài địa phương, nơi có người Tày sinh sống không gọi là bản mà gọi mường. Địa bàn cư trú của người Tày mỗi bản thường được làm ở chân núi, chỗ đất bằng ven sông suối, trên cánh đồng rộng, có nhiều bản trồng tre bao bọc xung quanh (khuyên hay viền). Nếu là bản ở gần biên giới, họ còn xây tường bằng đá, có hào lũy bao quanh. Tính cộng đồng của dân bản là một tính thống nhất, gắn bó xẻ chia hoạn nạn vui buồn đều có nhau, những khi tắt lửa tối đèn, bản giữ một vị trí quan trọng trong đời sống.
Ngôi nhà cổ truyền thống của ngươi Tày là nhà sàn, tùy từng nơi từng địa phương mà có những sắc thái khác nhau: Bốn mái, hoặc là hai mái hình vuông hay chữ nhật. Tuy có sự khác nhau ít nhiều nhưng nhìn chung tổng thể vẫn có tính thống nhất về kiểu dáng. Trước đây phần đông nhà làm bằng gỗ loại tốt có ván bưng, lát sàn, lợp ngói khang trang và thoáng mát.
Trang phục của người Tày với bộ quần áo truyền thống cho cả nam và nữ. Nam mặc bộ quần áo màu chàm, quần lá tọa áo năm thân, nữ thường chít khăn mỏ quạ, buộc thắt lưng đeo vòng cổ, vòng tay, vòng chân bằng bạc, đôi khi đeo khuyên vàng. Một số bản người Tày thuộc tỉnh Hà Giang và Tuyên Quang phụ nữ đi chợ còn đeo túi vải thêu hoa.
Người Tày ăn hàng ngày bằng gạo tẻ, gạo nếp dùng để nấu xôi và làm bánh. Các món ăn gồm có thịt lợn, thịt gà, cá, rau quả các loại bằng cách chế biến kho, rán, xào nấu canh, rất ít khi luộc Chè và rượu là hai thứ đồ uống phổ biến nhất.
Xã hội người Tày nhìn chung là một xã hội khá phát triến nhưng không đều. Ở mỗi vùng mỗi địa phương trình độ nhận thức về xã hội khác nhau, nhưng không ảnh hưởng nhiều bởi tàn dư phong kiến dể lại. Tổ chức xã hội củ theo quãng hoặc thổ ty đã ra đời từ rất sớm, tồn tại cho đến trước Cách mạng tháng Tám. Xã hội quằng, hoặc thổ ty trước đây bị các triều đại và bọn thực dân phong kiến lợi dụng phục vụ cho bộ máy cai trị của họ, vì thế mà nhiều quằng đã trở thành có địa vị cao sang, thân tín của triều đình phong kiến, được phong tước hưởng bổng lộc của triều đình, những tước vị Không bình chương sự, Đại tướng quân, Thượng tướng quân Thượng thư v.v...
Đặc điểm nổi bật của chế độ thổ ty là duy trì chế độ cai trị cha truyền con nối, có quyền hành chiếm giữ, sở hữu đất đai các quyền lợi ở dịa phương do thiên nhiên đem lại, họ thâu tóm ruộng đất, nương rẫy, phân bổ đất đai đế thu lợi. Thổ ty cũng dùng nhiều hình thức bóc lột nhân công ở đợ, lao dịch, cống nạp sản vật. Bên cạnh đó còn có nô lệ gia đình, đẩy người dân đến cảnh sống cùng cực. Chế độ thổ ty chỉ tồn tại đến đầu thế kỷ XX thì bị tan rã. Thời gian này xã hội người Tày đã phát triển ở một số nơi, cho nên đã bộc lộ rõ sự phân hóa giai cấp, giầu nghèo, đi đôi với việc quản lý hành chính theo lãnh thổ. Những sản phẩm hàng hóa được bày bán trao đổi với các vùng miền ở các phiên chợ xuất hiện ngày càng nhiều.
Dưới thời thực dân phong kiến, xã hội người Tày cũng ở trong tình trạng thuộc địa, nửa phong kiến, với cả hệ thống bộ máy hành chính đồ sộ, cùm kẹp nhà tù, bóc lột người lao động nộp thuế, làm phu, tạp dịch, chúng dùng nhiều thủ đoạn và âm mưu thực hiện chính sách ngu dân, làm bần cùng hóa xã hội người Tày để dễ bề cai trị. Song người Tày không hề khuất phục, vẫn duy trì tập quán tốt đẹp cổ truyền và bản sắc văn hóa của dân tộc mình.
Người Tày có cả một kho tàng truyện kể trong văn học nghệ thuật dân gian, đề cập nhiều đến hiện tượng xã hội, tự nhiên, lịch sử, ca ngợi những người anh hùng có công với đất nước, bảo vệ quê hương, bảo vệ làng xóm, nêu cao tinh thần đoàn kết dân tộc, tự lập tự cường, lên án những bất công, ca ngợi nhân nghĩa và lòng thủy chung, ca ngợi tài năng và trí tuệ con người, tiêu biểu là các truyện Nam Kim, Thi Đan, Lương Quân - Bióc Rôm, Trần Chu - Quyển Vương, Quảng Trân - Ngọc Lương Khảm Hải v.v...
Dân ca có hát lượn được phổ biến ở nhiều địa phương, nhiều lứa tuổi nhất là thanh niên nam nữ, lượn cũng có nhiều lời, điệu hát khác nhau ở mỗi địa phương, có lượn slượng, lượn then, nàng hai, lượn coi, khắp, còn có các thể loại văn nghệ dân gian Phuối rọi, Phuối pác, Phòng slự, cò lẩu, cũng như điệu hát then rất phong phú về giai điệu, vừa hát vừa có nhạc đệm, bằng cây đàn tính, đàn tính còn dùng đánh đàn biểu diễn.
Trong những ngày hội mùa xuân (lồng tồng) hàng năm có thể tổ chức ném còn, múa lân, múa sư tử, bơi thuyền, kéo co, đua ngựa, đánh cờ tướng, cướp đầu pháo.
Người Tày đã có truyền thống yêu nước, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong cuộc đấu tranh lâu dài chống giặc ngoại xâm. Người Tày đã góp phần xứng đáng vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và công cuộc đổi mới công nghiệp hóa hiện dại hóa, cùng nhân dân cả nước xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
Nguyễn Hải @ 13:47 21/02/2011
Số lượt xem: 755
- DÂN TỘC RƠ MĂM (21/02/11)
- DÂN TỘC RƠ MĂM (21/02/11)
- DÂN TỘC Ơ ĐU (21/02/11)
- DÂN TỘC BRÂU (21/02/11)
- DÂN TỘC MẢNG (21/02/11)
Các ý kiến mới nhất