Gốc > Đất nước Việt Nam > Nếp sống văn hóa Việt > Văn hóa các Dân tộc Việt Nam >

DÂN TỘC RƠ MĂM


DÂN TỘC RƠ MĂM

Người Rơ Măm chủ yếu cư trú ở làng Le thuốc xã Mọ Rai giáp biên giới Việt - Lào thuộc tỉnh Gia Lai tiếp giáp với Kon Tum. Rơ Măm vừa có ý nghĩa tên một tộc danh, đồng thì còn là tên gọi của một địa danh. Vào những năm 1910 đến 1915 đầu thế kỷ XX, người Rơ Măm tương đối đông ở rải rác khắp 12 làng, sau này về tập trung sống ở hai làng Le và Rơ Măm hay (Rơ Măm Le) nằm dọc hai bên bờ sông Sa Thầy, gần sông Pô Cô và sông Tri, tiếng nói thuốc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, ngữ hệ Nam Á với dân số 289 người, Rơ Măm là tên tự gọi.

Đến nay chưa có tài liệu xác định chắc chắn tổ tiên người Rơ Măm đã đến dây cư trú được bao nhiêu đời, khi các cụ già trong làng kể về các tổ tiên của mình cho biết, tổ tiên họ đã sống ở vùng này từ thời xa xưa, dọc hai con sông Sa Thầy, sông Pô Cô. Về sau làng Rơ Măm bị dịch bệnh kéo dài, làm nhiều người chết, dân số cứ thưa dần, cuối cùng hai làng nhập một gọi chung là làng Le Rơ Măm.

Người Rơ Măm là láng giềng gần gũi với người Gia Rai, người Ba Na, họ có quan hệ chặt chẽ với các tộc người nói trên. Người Rơ Măm sinh sống chủ yếu là trồng lúa trên rẫy. Lúa nếp dược trồng nhiều hơn lúa tẻ. Ngoài ra còn trồng hai loại cây lương thực khác là ngô và sắn. Khi đến mùa gieo trồng đàn ông hai tay cầm hai gậy chọc lỗ đầu nhọn để chọc lỗ, theo sau hai hoặc ba phụ nữ tra hạt giống.

Săn bắn hái lượm cũng giữ một vai trò quan trọng trong đời sống, đặc biệt nghề đánh cá phát triển mạnh và khá phổ biến, họ dùng chài, với đôi khi bắt cá bằng tay rất điệu nghệ, nhất là ở những nơi có khe suối, hốc đá. Vùng sông Sa Thầy rất nhiều cá, là nguồn cung cấp thức ăn cho dân làng người Rơ Măm.

Trong cộng đồng người Rơ Măm, riêng nghề dệt phát triển khá mạnh, đủ khả năng và kỹ thuật trồng cây bông vải trên rẫy, cung cấp cho nhu cầu may mặc của mỗi gia đình, về kinh tế hàng hóa chưa phát triển. Trước đây người Rơ Măm thông thường hay trao đổi hàng hóa, sản phẩm với người Lào, người Brâu, người Ba Na, người Xơ Đăng để lấy đồ dùng, vật dụng, nhu yếu phẩm cần thiết phục vụ cho gia đình. Mặt hàng trọng điểm mà người Rơ Măm yêu cầu là muối để ăn và dao rừng phát nương. Đồ trang sức cho phụ nữ là vòng đeo tai bằng ngà voi hoặc bằng gỗ quý. Ngược lại người Rơ Măm phải mang hàng đi đổi nồi đồng, chiêng ché, thuốc lá là những mặt hàng có giá trị nhất, trao đổi cũng có trị giá cao hơn.

Trang phục của người Rơ Măm là đàn ông đóng khổ cởi trần, phía trước mặt khố thả xuống đầu gối, phía sau buông đến ống chân. Phụ nữ mặc váy quấn dài đến ống chân, hoặc quá đầu gối, cũng cởi trần. Khi trời lạnh thì choàng thêm chiếc mền, hay mảnh vải cho đỡ lạnh, nếu khi đi chơi, đi lễ hội thì mặc áo cộc tay, không trang trí hoa văn, không thêu không nhuộm mà giữ nguyên màu trắng của vải mộc. Phụ nữ thích đeo vòng tai bằng ngà voi, hoặc bằng gỗ quý.

Trai gái đến tuổi trưởng thành phải thực hiện tục cưa răng cửa của hàm trên, từ 4 đến 6 chiếc. Người Rơ Măm thích ăn cơm nếp, đổ gạo vào ống tre, nứa đem đến ăn với canh, rau, muối ớt, cá, thịt lợn, có khi cả thịt thú rừng loại nhỏ. Trước đây có tập quán ăn bốc. Lớp thanh niên trẻ ngày nay, họ tự bỏ một số tục lệ lạc hậu như cưa răng và ăn bốc, được một số cụ già đồng tình ủng hộ việc làm này, tiến tới sẽ bỏ hẳn. Để xây dựng làng bản văn minh phát huy những nét đẹp văn hóa cổ truyền của dân tộc, cần phải gìn giữ bảo tồn những cái đã có, mang bản sắc dân tộc, xóa đi những hủ tục lạc hậu, đó là bước đi kết thúc một giai đoạn biến cố lịch sử của dân tộc Rơ Măm, để bước sang giai đoạn chuyển tiếp chế độ xã hội chủ nghĩa - một thời kỳ mới đã bắt đầu.

Làng của người Rơ Măm gọi là đê, mỗi đê có một người đứng đầu là già làng (kra đê) do đa số dân làng tín nhiệm bầu ra. Cách bố trí sắp xếp nhà ở trong làng có tổ chức theo một trật tự nhất định. Nhà Rông bao giờ cũng ở vị trí giữa làng nhà ở bao xung quanh là loại nhà sàn dài, sắp đặt theo hình vuông, hay hình chữ nhật, tất cả hướng nhà nhìn vào nhà Rông, khoảng giữa là bãi rộng làm sân làng, sạch sẽ và thoáng mát, nơi vui chơi của nam nữ thanh niên và các em nhỏ, xung quanh làng làm hàng rào, các loại thân cây gỗ đóng cọc vào hàng tre bảo vệ kiên cố.

Sống dưới một mái nhà sàn dài truyền thống, thông thường có từ ba đến năm hộ gia đình, có quan hệ huyết thống xa, hoặc gần tính trung bình mỗi nhà có khoảng trên dưới 20 người. Tổ chức xã hội của người Rơ Măm theo kiểu gia đình nhỏ, mỗi đôi vợ chồng đều có đời sống kinh tế, tài sản riêng.

Một ngôi nhà sàn dài gồm có nhiều bếp cho từng đôi vợ chồng, đặt ở ngay căn buồng có phên che ngăn cách, thành một không gian riêng biệt, trong nhà có hành lang ở giữa, chạy dọc theo chiều nhà, để thuận tiện cho mỗi gia đình đi lại. Về căn buồng ở của mình, gian giữa làm nơi tiếp khách của cả nhà, sử dụng mỗi khi cần tiếp khách, hoặc khi đãi rượu bạn thân.

Trong quan hệ hôn nhân và gia đình của người Rơ Măm còn để lại nhiều tàn dư mẫu hệ, đôi vợ chồng trẻ sau ngày cưới họ phải cư trú tại nhà bố mẹ vợ từ 4 đến 5 năm rồi mới trở về ở nhà bố mẹ chồng. Cũng có trường hợp khi cưới xong họ về ở nhà chồng 4 đến 5 năm, rồi mới quay trở lại ở nhà bên vợ, cứ tương tự bằng thời gian quay vòng như thế, cho đến khi tứ thân phụ mẫu của hai bên qua đời thì mới thôi, lúc bấy giờ tùy theo điều kiện hoàn cảnh, vợ chồng sẽ chọn nơi ở cố định.

Chế độ hôn nhân của người Rơ Măm quy định rất chặt chẽ, nam nữ đến tuổi trưởng thành được tự do lựa chọn người yêu của mình, miễn là không vi phạm vào điều cấm, không được kết hôn với con chú con bác, con dì con già, con cô con cậu.

Ngày nay, quan hệ hôn nhân gia đình của người Rơ Măm đã có nhiều xu hướng tiến bộ mở rộng, có quan hệ hôn nhân với nhiều người thuộc các dân tộc anh em khác, nhiều cô dâu chú rể là người Rơ Măm, Gia Rai v.v. . .

Trong hoạt động tín ngưỡng tôn giáo, những nghi thức hầu hết có liên quan đến nền sản xuất nông nghiệp, được coi là quan trọng nhất, được tạo thành một hệ thống, những nghi lễ được tiến hành liên tục trong một năm, kể từ khi vào mùa đến rẫy, đến khi thu hoạch đưa thóc về kho tạ ơn thần lúa (Giàng Stri hay H'ri), nghi lễ này là ngày hội lớn, rất đông vui náo nhiệt nhất.

 Suốt trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, địa bàn cư trú của người Rơ Măm nằm sâu trong vùng trọng điểm của cuộc chiến đấu diễn ra rất ác liệt, ngày đêm bị bom đạn giặc Mĩ cày xới, chà đi xát lại nhiều lần, nhưng người Rơ Măm vẫn không nao núng, vẫn một lòng kiên trì đi theo cách mạng, ủng hộ cách mạng, giúp đỡ bộ đội đánh giặc, đập tan kế hoạch kìm kẹp của địch, mở rộng vùng giải phóng. Vào cuối năm 1960, quê hương Sa Thầy của người Rơ Măm cũng được giải phóng, lá cờ cách mạng trong bay trên làng bản của họ, kể từ đó người Rơ Măm bắt tay vào xây dựng đời sống mới về kinh tế, văn hóa, giáo dục, tinh thần đã có một bước tiến đáng kể, cuộc sống trở lại thanh bình đối với người Rơ Măm, chẳng được bao lâu thì bọn diệt chủng Pan Yết ngày đêm lén lút đến quấy phá phong tỏa người dân làng Le.

Người dân làng Le nói riêng, người dân tộc Rơ Măm nói chung kiên quyết không ai đi theo chúng, quyết thủy chung một lòng tin yêu ở Đảng, tin yêu Bác Hồ, nghe theo lời cách mạng. Ngày nay người Rơ Măm thật sự có cuộc sống ấm no hạnh phúc, làm chủ lấy cuộc sống của mình và họ yêu tha thiết quê hương, Tổ quốc Việt Nam đã cho họ cuộc sống hồi sinh, thoát khỏi cảnh nguy cơ bị diệt chủng. Giờ dây vị trí vai trò của người Rơ Măm đã được bình đẳng trong xã hội, là thành viên trong đại gia dình các dân tộc Việt Nam, đoàn kết trong mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đoàn kết các dân tộc anh em khác để tăng thêm sức mạnh, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam của chúng ta.



Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 13:47 21/02/2011
Số lượt xem: 798
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến