Gốc > Đất nước Việt Nam > Nếp sống văn hóa Việt > Văn hóa các Dân tộc Việt Nam >

DÂN TỘC KHÁNG


DÂN TỘC KHÁNG

Người Kháng là một trong số những cư dân có mặt lâu đời ở miền Tây Bắc nước ta, cư trú rải rác ở các huyện Thuận Châu, Quỳnh Nhai, Mường La (tỉnh Sơn La và Điện Biên huyện Phong Thổ, Mường Lay, Mường Tè, Tuần Giáo (tỉnh Lai Châu). Người Kháng có các nhóm địa phương như: Kháng Dâng, Kháng Hoặc, Kháng Dón, Kháng Súa, Ma Háng, Bủ Háng, Ma Háng Béng, Bủ Háng Cọi. Mơ Kháng là tên tự gọi khá phổ biến, còn một vài nơi họ tự xưng mình là: Kháng Brển, hay Quảng Lâm, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me ngữ hệ Nam Á (họ nói thạo tiếng Thái) với dân số khoảng 4.256 người.

Người Kháng lấy trồng trọt nương rẫy là hình thái kinh tế chủ đạo, lấy cây lúa nếp là cây trồng chính còn trồng thêm nhiều ngô, đậu, bí, dưa, khoai sắn và cây bông vải, ở phân tán trên một địa bàn rừng núi khá rộng, điều kiện thiên nhiên là hậu mưa nắng cũng đa dạng thất thường, với công cụ sản xuất còn thô sơ, dao quắm, rìu, gậy chọc lỗ với cách thức canh tác phát, đốt, chọc lỗ tra hạt. Có thể phân ra thành các nhóm khác nhau, do tập quán xa xưa của người Kháng có nhóm làm rẫy nhưng hoàn toàn sống du canh du cư, có nhóm khác thì sống du canh bán định cư, chuyên làm rẫy có kết hợp làm ruộng trồng lúa, có nhóm lại định canh định cư ổn định, làm ruộng là chính kết hợp với làm rẫy. Nhìn chung, hoạt động sản xuất của người Kháng, đối tượng để canh tác chính vẫn là rẫy. 

Trong cộng đồng người Kháng, còn giữ được nhiều tập quán truyền thống tốt đẹp, dưới nhiều hình thức khác nhau, có tính tương trợ giúp đỡ như: Giúp công (kỷ hùm hay ta độc ti) làm bữa ăn nhờ bà con đến giúp đỡ (tẹ van) thuê công trả công (te chảng).

Tình hình tăng gia, chăn nuôi trâu bò, lợn, gà, vịt khá phát triển để cải thiện có thêm thức ăn trong mỗi hộ gia đình, ngoài ra còn dùng trong các lễ nghi tôn giáo, mỗi khi nhà có việc cưới hỏi, ma chay hay trao đổi hàng hóa, sản phẩm đồ dùng gia đình. Trâu dùng để kéo cày, kéo gỗ, ngựa để cưỡi làm phương tiện đi lại, đôi khi còn dùng để thồ hàng rất thuận lợi để giữ nhà và giúp người đi săn thú. Nghề phụ trong gia đình là đan lát, rèn công cụ, đặc biệt hơn cả là nghề đục thuyền độc mộc từ thân cây gỗ, ghép thuyền ván đuôi én, để đi lại trên sông, suối rất nổi tiếng, ngoài ra còn hái lượm lâm thổ sản, săn bắt đánh cá góp phần cải thiện sinh hoạt.

Người Kháng ở nhà sàn, trang phục ăn mặc rất giống người Thái. Bữa ăn hàng ngày của người Kháng ăn gạo nếp nấu xôi, ưa thích các món ăn có vị chua, cay như cá ướp chua, dưa chua, món ăn tổng hợp, thịt nấu lá nết, xương xông, ớt, tỏi, gừng, rau thơm, trộn với thức ăn đã nấu chín. Tục cổ truyền hiện nay còn giữ được uống rượu bằng mũi (tu mui) đó là nét đẹp văn hóa độc đáo của người Kháng.

Do từ lâu họ sống xen kẽ gần vùng với người Thái, người Kháng không hình thành ra một tổ chức xã hội để tự cai quản, mà hoàn toàn phụ thuộc vào chế độ phìa tạo cưỡng bức lao dịch, họ phải cực khổ trăm bề, với nhiều hình thức pụa, cuông bắt phải đi làm lao dịch, nếu không phải nộp bằng hiện vật để thay thế công đi lao dịch có tên gọi là guộc. Trong mỗi bản có người quan cai đứng đầu do dân bản tự bầu, cũng có khi là phìa tạo chỉ định ra, còn có thầy cúng ma khi bản có người ốm đau gọi là pã o.

Trong xã hội người Kháng phổ biến là hình thức tiểu gia đình phụ quyền, theo tập tục sau này trở thành tiền lệ, họ quan tâm bảo vệ quyền lợi của người đàn ông, trong quan hệ đối với đàn bà, cha đối với con. Mặc dầu là như vậy, ở trong xã hội, người Kháng ngày nay vẫn còn thấy dấu tích của tàn dư mẫu hệ, như vai trò của ông cậu trong việc quyết định hôn nhân, nếu như trong quá trình không thực hiện đúng các bước nghi thức của hôn lễ, để ông cậu phật ý chưa quyết định, thì hôn lễ, khó có thể tiến hành, con gái đẻ ra phải theo họ mẹ, con trai mới được theo họ cha, nếu như cặp vợ chồng đã ly hôn, thì tất cả các con đều mang theo họ mẹ.

Người Kháng theo tập tục hôn nhân truyền thống còn mang, tính chất mua bán. Việc cưới xin phải qua những bước kéo dài nhiều năm, gây phiền phức tốn kém, vì muốn lấy được vợ, họ nhà trai phải chịu tất cả phí tổn ''mua'' người con gái về 1àm vợ Anh con trai này phải chịu khó đi ở rể từ 8 cho đến 12 năm coi như ''chuộc công'' bố mẹ vợ đã nuôi vợ mình.

Quan niệm của người Kháng từ lâu cho rằng: Người sống được là nhờ có linh hồn, mỗi con người sinh ra đều có năm hồn, hồn chính ở ngay đỉnh đầu và bốn hồn khác ở tứ chi, khi chết các hồn này đều biến thành ma (ma ngắt) ngụ ở năm nơi, hồn chủ thành ma nhà ở, nơi thờ tổ tiên, ma ngắt nhả hồn tay phải ở trên nương, ma ngắt kỷ hồn tay trái ở gốc cây, làm quan tài, ma ngắt hóm hồn chân phải ở nhà mồ, ma ngắt mơn hồn chân trái lên trời thành ma trời, (ma ngắt xừ ù). Do những ý nghĩ về những điều huyền bí đó, nên họ mới có tục chia của cho người chết, cùng tiến hành song song với nhiều nghi thức tôn giáo để biểu thị sự vĩnh viễn của ma với hồn người, cúng lễ là hình thức đuổi ma đi, để không đến quấy nhiễu các hồn sống.

Sống dưới chế độ thực dân phong kiến, chế độ phìa tạo đã, áp bức bóc lột, cuộc sống của người Kháng vô cùng khó khăn, thiếu thốn cực khổ đến tột cùng, chỉ còn biết kêu trời. Qua tiếng hát ai oán xót thương của người con gái Kháng bằng lời ca nỉ non sau đây đã vẽ nên toàn cảnh xã hội Kháng hồi đó:

“…Trên đời này ai cho ta cuộc sống. . .

Gái đương thì phơi mình lam lũ

Váy rách áo chẳng lành, để hở mình nắng cháy. .. ''

Từ vũng bùn cực khổ mà người Kháng quyết đứng lên, đi theo tiếng gọi của Đảng của Bác Hồ, quyết tâm kháng chiến chống Pháp, lật đổ chế độ phìa tạo, giải phóng quê hương. Có rất nhiều những bản kháng chiến của người Kháng ở ven sông Đà thuộc Thuận Châu, Quỳnh Nhai, Mường La (tỉnh Sơn La) đều là căn cứ du kích từ giai đoạn năm 1948 đến năm 1952. Ở các tỉnh Sơn La và Lai Châu là vùng tạm chiếm khu căn cứ của địch, khu du kích của người Kháng vẫn được giữ vững, kiên trì chiến đấu làm tiêu hao sinh lực của địch, phối hợp cùng với bộ đội chủ lực tấn công nhiều đồn, bốt địch làm cho chúng hoang mang tan vỡ ở nhiều nơi, đã có nhiều tấm gương, chiến đấu dũng cảm kiên cường của chiến sĩ du kích Kháng.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, chống chiến tranh phá hoại leo thang ra miền Bắc, người Kháng đã tổ chức nhiều đội dân quân trực chiến, mà tiêu biểu bà đồng chí Lò Văn Láo tiểu đội trưởng, tổ trưởng trực chiến, lưng cõng con nhỏ, tay dắt con lớn, bỗng có bốn máy bay ''thần sấm?' bổ nhào gây tội ác vẫn dương súng nhả đạn quyết liệt, đã được biểu dương khen thưởng tại Hội nghị công tác dân quân du kích tỉnh Sơn La năm 1967.

Trong công cuộc xây dựng đất nước đổi mới kỹ thuật canh tác cơ cấu cây trồng vật nuôi, người Kháng giờ đây đã hết được cái khổ, xoá đi được cái nghèo, được hưởng ánh sáng văn hóa, có chương trình nước sạch, cuộc sống được ấm no hạnh phúc, có đời sống ổn định ngay trên quê hương của mình, vẫn giữ được nét đẹp văn hóa và bản sắc dân tộc.



Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 13:44 21/02/2011
Số lượt xem: 500
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến