DÂN TỘC MẠ
|
DÂN TỘC MẠ Người Mạ là một trong những cư dân bản địa sống lâu đời ở cao nguyên miền Trung nước ta, ngoài ra còn có những tên gọi khác như: Châu Mạ, Chô Mạ, Chê Mạ; tên tự gọi là Mạ; tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me ngữ hệ Nam Á, với dân số khoảng 25.895 người. Khu vực cư trú của người Mạ ở miền cực nam Tây Nguyên bao gồm những dải đất phía nam tỉnh Lâm Đồng tập trung ở các huyện Di Linh, Đức Trọng thị xã Bảo Lộc. Ngoài ra, còn một bộ phận cư trú ở các tỉnh Đắc Lắc, Đồng Nai và Bình Phước. Người Mạ có những nhóm địa phương như sau: Mạ Ngăn là Mạ chính dòng, cư trú ở lưu vực sông Đa Dơng và phía tây, phía bắc thị xã Bảo Lộc. - Mạ Xốp là người Mạ cư trú ở vùng đất sét (xốp). - Mạ Tô cư trú ở thượng lưu sông La Ngà trên cao nguyên Blao, có nhiều quan hệ với người Cơ Ho. - Mạ Trung là người Mạ cư trú ở vùng bình nguyên tính từ phía tây nam thị xã Bảo Lộc đến huyện Định Quán, tỉnhh Đồng Nai. Nguồn sống chính của người Mạ nhờ vào phát rừng làm rẫy. Tập quán canh tác của người Mạ chia rẫy (mir) làm hai loại lẫy mới (mđrih) và rẫy cũ (mpuh). Rẫy mới là rẫy canh tác lần đầu mà chỉ có trồng lúa; rẫy cũ là rẫy canh tác từ năm thứ hai trở đi chỉ trồng lúa thêm một năm nữa rồi cũng bỏ hoang hóa cho tái sinh tự nhiên, song cũng có khi trồng các loại có hoa màu liên tục mấy năm rồi mới bỏ hóa. Trên mảnh rẫy na gần làng sau khi đã thu hoạch năm đầu, làm cỏ dọn sạch và thành đống đợi cho khô đem đến rồi tiến hành cuốc đất trồng sắn (blang). Trên ruộng rẫy, trồng lúa là cây lương thực chính, nhưng bao giờ ở đâu, người Mạ cũng có tập quán canh tác xen canh khi cấy lúa vẫn trồng thêm ngô, bầu, bí, mướp, dưa, bông, ớt và cây thuốc lá. Công cụ lao động chính của họ gồm rìu (kơl sùng) dùng để khai phá đốn cây, dao rừng (wich) dùng dể phát chặt những cành cây nhỏ, gậy chọc lỗ (crmul) bằng gỗ dài 3 mét bịt sắt phía đầu nhọn, chiếc gùi loại nhỏ (khiu) để đựng hạt giống, dùng trong khi chọc lỗ tra hạt, cái kao làm cỏ lúa (tương tự như chiếc bù cào làm cỏ dưới ruộng nước của người Việt). Khi đến vụ thu hoạch thì tuốt lúa bằng tay, chỉ khi nào thu hoạch lúa nếp mới dùng đến liềm (moh) để cắt. Gạo tẻ được coi như một thứ sản phẩm đặc biệt quan trọng, là loại lương thực nuôi sống con người nên được gọi là lúa mẹ (Koi me). Lúa nếp (mbar) thường gieo thành một khoảnh trên ruộng rẫy “lúa mẹ''. Người Mạ thường tìm nơi có địa hình canh tác ở rừng xa, là rừng thứ sinh, rừng chồi rừng trẻ để làm rẫy, vì cây ở rừng thứ sinh thấp hơn cây rừng già và có màu xanh nõn chuối, thỉnh thoảng mới thoảng hiện lên một chỏm rừng già có màu xanh xẫm, đó là những rừng linh thiêng, theo quan niệm tôn giáo thì giữ lại để thờ thần K'bông đã sáng ' tạo ra màu xanh của đất, để cho con người trồng cấy và gieo hạt. Trong quá trình canh tác nông nghiệp trên ruộng rẫy, người Mạ tiến hành với nhiều hình thức lễ nghi về nông nghiệp, cầu mong mưa thuận gió hòa, cho mùa màng tươi tốt, đâm chồi nẩy lộc. Trước khi vào mùa đến rẫy thì cúng thần lửa (tơ yang us) tiếp theo phải lễ tơ yang tuyt koi mới gieo hạt trên rẫy. Khi lúa đến thì con gái sắp sửa trổ đòng đòng lại làm thêm lễ vu tam nam có ý nghĩa để ăn mừng và tạ ơn ''mẹ lúa”. Đến khi lúa trổ bông làm lễ yu rmul, với vật hiến sinh là lợn hoặc dê, phải kiêng cữ trong bẩy ngày, đó là lễ nông nghiệp lớn thứ hai trong chu kỳ sản xuất của một năm. Sau khi đã gieo hạt, theo tập quán cổ truyền, người Mạ dọn ra rẫy ở, để có điều kiện chăm sóc cây trong mùa sinh trưởng, đồng thời dựng một nhà sàn thấp (rnú) đem theo bếp nồi để nấu, lương thực, thực phẩm, váy áo chăn màn, nông cụ chiêng ché để sinh hoạt y như ở trong làng. Ở giữa rẫy có dựng một chòi cao Kóp để canh giữ, đuổi chim thú bảo vệ hoa màu cho đến khi thu hoạch mùa màng xong, mới trở về làng sinh hoạt bình thường như cũ. Đặc điểm của người Mạ tỷ lệ canh tác ruộng lúa nước ra ít, chỉ thấy xuất hiện ở những nơi đất thấp bằng hoặc ở sâu trong thung lũng, hay vùng hạ lưu sông Đa Dơng, một số nơi thuộc huyện Bảo Lộc. Việc canh tác ruộng nước của người Mạ chưa vượt khỏi phương thức làm rẫy. Người Mạ thường có những mảnh vườn ở quanh nhà, để khi có làm hàng rào bao quanh nhưng cũng hết sức đơn giản bằng những thanh tre, nứa buộc chéo lại, cũng có khi là hàng rào bằng các cành thân cây gỗ xếp chéo làm giậu. Vườn thường trồng thuốc lá, chuối, mít, na, đu đủ, có nhà vườn thì chuyên canh trồng cây bông vải, dâu, thuốc lá bo bo. Nhiều năm trở lại đây có trồng thêm cây công nghiệp như chè, cà phê, hồ tiêu, điều. Nghề chăn nuôi còn rất kém phát triển. Tuy ở mỗi gia đình, mỗi làng có nuôi trâu, bò, dê, gà, lợn nhưng nhằm mục đích cho phát triển kinh tế, cải thiện sinh hoạt, mà có dùng làm vật hiến sinh trong các dịp lễ nông nghiệp. Nghề thủ công nghiệp được phát triển, coi như một nghề phụ trong gia đình người Mạ, như đan tre mây, dệt vải ở một trình độ kỹ thuật cao, bằng phương pháp dệt vải cài hoa văn trực tiếp trên nền vải. Nghề rèn phát triển mạnh, hầu hết ở làng nào cũng có bếp lò rèn sản xuất, sửa chữa nông cụ và các dụng cụ trong gia đình bằng kim loại. Trong xã hội của người Mạ lấy đơn vị cư trứ là bon, ba gồm từ một đến nhiều ngôi nhà dài. Trong mỗi ngôi nhà dù các thành viên có chung một ông tổ. Nhưng ngôi nhà đó có thể quy tụ, hay phân tán trong phạm vi làng. Phạm vi làng bao gồm đất để ở, đất để canh tác, đất lưu canh, rừng để hái lượm săn bắn, làm bãi thả gia súc, phạm vi đầm hổ sông suối và những cánh rừng thiêng. Nhà ở truyền thống của người Mạ là nhà sàn dài, khoảng đầu thế kỷ XX trở về trước có nhiều ngôi nhà dài đến 100 mét, đến nay phổ biến ngôi nhà dài từ 15 mét đến 30 mét, nhưng nhiều hơn cả là nhà sàn dài từ 4 mét đến 8 mét. Đi đôi với việc dựng những ngôi nhà tranh vách đất, giống kiểu nhà của người Việt đan xen với ngôi nhà sàn truyền thống, tạo nên một bức tranh sắc màu, với những nét văn hóa độc đáo tô thêm cảnh đẹp của làng. Vật liệu xây dựng nhà của người Mạ bằng: Tre, nứa, bương, nai. Riêng khung nhà làm bằng gỗ, hai mái lợp lá sôi, rất ít khi lợp bằng cỏ tranh. Mỗi căn hộ có một bếp riêng và một cửa ra vào mở về phía mái, Người Mạ ăn cơm bằng gạo tẻ với muối trộn ớt cùng với măng tươi, các loại rau rừng, bầu, bí, mướp, thỉnh thoảng có cá, thịt thú rừng săn bắt được. Các đồ ăn đem chế biến nướng, luộc, nấu canh, đồ uống bằng rượu cần tự nấu, hút thuốc lá bằng điếu (khan). Trang phục của người Mạ: Phụ nữ thì mặc váy, quần, áo chui đầu; nam giới đóng khố cởi trần, khi mùa lạnh khoác thêm tấm vải, hay tấm chăn để chống rét. Tập quán cổ truyền của người Mạ là cưa răng, xâu lỗ tai để đeo vòng cỡ rất to, được làm bằng ngà voi hoặc khoanh nứa. Phụ nữ thường đeo hạt cườm trên cổ màu ngũ sắc cùng với đôi vòng bằng đồng. Dù là nam hay nữ, người Mạ đều rất thích đeo nhiều vòng đồng ở cổ chân cổ tay để làm đẹp. Xã hội người Mạ vào những năm đầu thế kỷ XX đã phá vỡ và tan rã mọi quy tắc của quan hệ xã hội nguyên thủy, để chuyến sang một xã hội có giai cấp, có chiếm hữu ruộng đất, có sự phân hóa kẻ giầu người nghèo. Làng cũng được coi như một đơn vị kinh tế độc lập, các thành viên của làng được gắn kết với nhau về quan hệ huyết thống và quan hệ hôn nhân. Người chủ làng cũng là người chủ rừng, chủ đất (Chau Kwang bon chau pái tom bri). Người trong làng được quyền khai thác, mở rộng diện tích đất đai để chiếm hữu, khai thác được hưởng quyền lợi do đất đai đem lại. Mỗi làng có từ một đến hai ông Chau át pu bri (người điều khiển rừng phối hợp cùng với các gia trưởng (pô hiu), hướng dẫn điều hành việc canh tác. Sự chênh lệch giàu nghèo ở mỗi gia đình rất dễ nhận thấy. Điều đó được thể hiện ở số lượng chiêng, ché nhiều hay ít. Đặc biệt là tính cộng đồng, tương trợ giúp đỡ nhau, thí dụ một gia đình nào đó gặp khi nhỡ ngại, hết gạo, hết thức ăn đồ uống, thì cứ lấy của người khác mà ăn không phải trả lại, đó là phong tục với nghĩa cử đẹp của người Mạ. Người Mạ tính huyết thống theo dòng bố. Gia đình 1ớn truyền thống đang trong quá trình bị phá vỡ, xuất hiện ngày càng nhiều mô hình gia đình nhỏ. Khi kết hôn vợ về nhà chồng. Nhưng còn ít địa phương giữ tập quán cũ, vợ chồng cư trú luân phiên, thời gian ở nhà chồng bao nhiêu thì ở nhà vợ bấy nhiêu. Hiện nay vẫn còn dấu tích của mẫu hệ và những tàn dư của quần hôn như: Quan hệ hôn nhân em chồng em vợ hôn nhân giữa con trai của cô với con gái của cậu, quyền hạn điều phối mọi công việc của người cậu rất lớn, và có uy lực trong gia đình người Mạ, quyền thừa kế tài sản thuộc về con trưởng. Phương thức vận chuyển của người Mạ chủ yếu bằng các loại gùi, hay thuyền độc mộc tự đóng để đi lại, vận chuyển và đánh cá trên vùng sông nước: Truyền thuyết và tín ngưỡng của người Mạ gắn liền với đất đai sông suối của xứ sở, tình yêu quê hương con người tha thiết, với bao khát vọng cháy bỏng hướng tới một xã hội công bằng, tâm hồn của người trong sáng thanh cao, thể hiện qua bài hát dân ca (tam phi), những câu truyện cổ kể về buổi đầu khai thiên lập dịa, những chuyện tình ca giàu chất lãng mạn, có nhiều bộ chiêng, cồng thanh la, các loại khèn môi, khèn bè sáo trúc nỉ non giầu chất thơ. Vào những ngày lễ đâm trâu hay hội mùa (nô rhe) là những ngày tết lớn nhất hàng năm của người Mạ, người đàn ông thường tìm cách làm đẹp cho mình, gài trên đỉnh đầu một chùm lông chim và mang theo cây lao hoặc con dao rừng (vich jal) để biểu dương sức mạnh của mình. Người phụ nữ Mạ có nét duyên dáng và tình yêu thầm kín bằng đường kim mũi chỉ của khiếu thẩm mĩ cắt may váy, áo khố những hoa văn uốn lượn, mềm mại với bản chất thật thà chất phác, hay lam hay làm, chiều chồng và thương con đó là nét đặc trưng khi nói đến người phụ nữ Mạ. |
Nguyễn Hải @ 13:41 21/02/2011
Số lượt xem: 721
- DÂN TỘC GIÉ - TRIÊNG (21/02/11)
- DÂN TỘC CƠ TU (21/02/11)
- DÂN TỘC BRU - VÂN KIỀU (21/02/11)
- DÂN TỘC XTIÊNG (21/02/11)
- DÂN TỘC MNÔNG (21/02/11)
Các ý kiến mới nhất