DÂN TỘC CƠ TU
Người Cơ Tu cư trú chủ yếu ở các huyện miền núi phía tây bắc tỉnh Quảng Nam, tập trung đông nhất vẫn ở các huyện Hiền và Nam Giang, ngoài ra còn một bộ phận sinh sống lẻ huyện Phú Lộc và huyện A Lưới thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế, với dân số khoảng 37.126 người. Dân tộc Cơ Tu còn có những tên gọi khác nhau như: Ca Tu, Kha Tu, Tơ, Phương, tên tự gọi là Cơ Tu và sau này đã trở thành tên gọi chính thức của một tộc danh, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me, ngữ hệ Nam Á.
Người Cơ Tu sống thành từng làng (Vol) ở trong các thung lũng nhỏ, hoặc ở lưng chừng núi nơi gần các khe suối và bãi để thả trâu. Mỗi một làng thông thường có từ mười lăm cho đến tối đa là bốn mươi nóc nhà (dông). Nhà làm theo kiểu nhà sàn có hai mái, cũng có nơi thì làm mái tròn. Thông thường thì mỗi nhà có từ 3 đến 4 bếp, cũng đôi khi một bếp dùng cho một gia đình, thậm chí có nhóm đến 10 bếp tương tự như người Tà Ôi người Bru - Vân Kiều. Trong khu vực dân cư của người Cơ Tu được bố trí sắp xếp theo hình tròn, hoặc là hình bầu dục chung quanh làng có hàng rào tre rất kiên cố, có cổng ra vào ở phía đằng trước và phía đằng sau. Các nhà được làm vây quanh ngôi nhà (gừ ơl) công cộng, nhà gừ ơl và cây cột cái (cột trụ) to cao đứng giữa nhà, trên đầu đốc, bên trong nhà chạm khắc hoặc vẽ nhiều hình động vật, trang trí nhiều hoa văn rất đẹp và độc đáo. Mỗi nhà gư ơl có hai bếp là nơi tụ tập sinh hoạt cộng đồng, vui chơi, liên hoan ăn uống, giải trí văn nghệ ca hát, hội họp, dành riêng cho người dàn ông, con trai của làng. Còn đàn bà con gái trong làng chỉ được đến nhà gư ơl vào ngày lễ, ngày hội.
Trang phục của người Cơ Tu: Đàn ông thì cởi trần đóng khố khi trời rét có được choàng thêm một chiếc chăn; phụ nữ Cơ Tu cũng cởi trần mặc váy, nhưng và loại váy truyền thống dạng váy ống, mặc trùm xuống quá đầu gối. Ngày nay, loại trang phục này không còn phù hợp trong lớp trẻ. Thanh niên nam nữ ở nhiều nơi ăn mặc theo lối phổ thông của người Việt, chỉ còn một số người già, người trung niên thì vẫn giữ cách ăn mặc truyền thống. Phong tục cưa răng, nhuộm răng đen, xăm mắt, xăm mình vẫn còn tồn tại phát triển ở nhiều vùng, nhiều địa phương.
Nguồn sống chính của người Cơ Tu là sản phẩm từ nông nghiệp, làm nương rẫy và thu hái các loại lâm thổ sản: Công cụ lao động, canh tác còn đơn giản, chỉ có vài thứ chủ yếu như: Dao quắm, rìu, gậy chọc lỗ. Mỗi năm, người Cơ Tu chỉ làm một mùa rẫy từ tháng 3 đến tháng 4 âm lịch, đến tháng 10 tháng 1.1 bắt đầu vụ thu hoạch gồm có lúa, ngô, khoai, sắn là cây lương thực chính.
Khi ăn thường xới cơm đổ vào lá theo tập quán ăn bốc. Nam nữ không bao giờ ngồi cùng một mâm để ăn. Chỉ vào buổi tối, đàn ông và lớp trai trẻ trong làng hay đem cơm ra nhà gư ơl để ăn, cùng nhau uống rượu tà vạc (còn gọi là rượu đoái) (loại rượu chiết xuất từ cây họ cọ ở trong rừng, rồi ngâm với vỏ cây chuồn), người Cơ Tu rất ưa dùng, phổ biến rộng rãi nhất là ở hai huyện Nam Giang và Hiền tỉnh Quảng Nam.
Xã hội của người Cơ Tu mang nặng tính phụ quyền. Làm chủ của gia đình bao giờ cũng là người đàn ông cao tuổi. Quyền thừa kế được hưởng tài sản thuộc về những người con trai, đặc biệt là người con trai cả được phần nhiều hơn, kể cả chức vụ đầu làng (Tako vel) cũng thuộc quyền về người già nắm giữ, sau khi chết truyền lại cho con cháu họ.
Khi người con trưởng thành, cha mẹ có trách nhiệm lựa chọn, tìm kiếm hỏi vợ cho con, chịu một phần lớn kinh phí trong việc hôn lễ. Còn gia đình nhà gái hầu như không phải chi phí tốn kém khoản nào. Sau lễ cưới, cô dâu về ở hẳn nhà bên chồng. Đặc điểm trong cộng đồng người Cơ Tu hiện nay còn tồn tại chế độ ngoại hôn giữa các nhóm (da, tô hoặc ca bu) bao gồm những người có quan hệ ruột thịt, tính theo dòng máu nam (dòng máu trực hệ) không được kết hôn với nhau, đồng thêu còn hiện tượng hôn nhân và kiêng kỵ theo kiểu dây mơ rễ má như: Người con trai của nhóm địa phương A đã kết hôn với người con gái của nhóm địa phương B, thì con trai của nhóm địa phương B phải kết hôn với người con gái của nhóm địa phương C, chứ không được kết hôn ngược lại, trong khi đó lại được phép con trai của nhóm địa phương C kết hôn với con gái của nhóm địa phương A. Nguyên tắc này được tuân thủ thực hiện khá chặt chẽ, không được kết chéo giữa hai nhóm đang có quan hệ hôn nhân. Song họ lại có sự lỏng lẻo trong quan hệ hôn nhân con cô con cậu (con trai của cô lấy con gái của cậu là hiện tượng lất phổ biến trong cộng đồng người Cơ Tu: Mặc dù những người này mới sinh ra (họ có quan hệ anh em con cô con cậu) nhưng theo tập tục của người Cơ Tu thì họ đương nhiên đã là vợ là chồng của nhau. Nếu về sau, vì một lý để nào đó mà họ không lấy nhau, nhưng họ vẫn là người thuộc quyền sở hữu của nhau, như vậy xét về mặt quan hệ giữa con cậu với người cháu trai, đã chuyển sang quan hệ bố vợ và con rể, khi đến nhà cậu, cháu trai được tôn trọng, giữ một vai trò có tính quyết định mọi công việc trong gia đình như việc cưới hỏi cho các con trai của cậu, việc làm nương lẫy, việc dựng lại ngôi nhà mới v.v. . .
Còn mối quan hệ người con gái của cô đối với cậu không phải là quan hệ giữa con dâu đối với bố chồng, nhưng vị tố vai trò của người cậu lại rất lớn, được quyền quyết định việc hôn nhân của cháu gái. Nếu như không có ý kiến của người cậu, cuộc hôn nhân này không thành. Ngoài ra, còn một hình thức hôn nhân giữa anh em chồng, sau khi anh chết người em trai có thể lấy vợ của anh, hoặc ngược lại em trai chết người anh cũng có thể lấy em dâu làm vợ. Con đẻ hay con rể cũng có thể lấy vợ lẽ của bố khi bố chết, như tổ chức đám cưới để được chấp nhận kiểu này là khá tốn kém, phải giết trâu mổ lợn để cúng tạ lỗi với tổ tiên. Ở một số địa phương làng lại bắt vạ phạt bằng tiền, bằng lúa hoặc cả làng ăn khoán như ''nàng Thị Mầu con gái Phú Ông'' trong truyện cổ dân gian của người Việt. Đối với chị em gái của vợ, khi em gái của vợ, hoặc những người họ hàng bên vợ, nếu cùng thế hệ không còn người để gả tiếp cho người con rể, thì gia đình bên vợ phải chịu nợ, sẽ được trả vào thế hệ sau.
Các loại hình thức hôn nhân nêu trên là có sự thỏa thuận giao ước giữa các nhóm người trong cộng đồng Cơ Tu, tuy nó không thành văn nhưng đã trở thành tập quán, tục lệ được bảo đảm thực hiện, tuân thủ một cách triệt để, nòi giống như “Hương Ước'' trước đây của làng xã người Việt.
Người Cơ Tu có nhiều chuyện kể dân gian về sự tích xã hội con người, sự tích các dòng họ, tình yêu đôi lứa, cái thiện thắng cái ác chống thú dữ, chống giặc ngoại xâm. Trong các ngày lễ ngày hội thường đồng diễn múa tập thể, phụ nữ thì múa điệu dạ dạ, nam giới thì múa điệu tung tung. Nhạc cụ của người Cơ Tu gồm có: Bộ chiêng gồm 3 chiếc, cồng 1 chiếc, trống, sáo, đàn, nhị khi hòa tấu biểu diễn rất sôi động, mang những bản sác văn hóa riêng của người Cơ Tu, phong phú và đa dạng, làm say mê lòng người.
Khi người chết để vào trong quan tài độc mộc bằng loại gỗ tốt đem chôn lấp đất, hoặc không lấp đất. Nhà giầu quàn quan tài ở nhà có khi hàng tuần lễ, mổ trâu, giết lợn để làm ma chay cúng bái cho người chết, làm nhà mồ rất đẹp, trang trí các hình hoa văn, đẽo tạc hình người để ở nhà mồ, khoảng 3 năm sau thì cải táng.
Người Cơ Tu vốn bản chất hiền lành và rất mến khách, song cũng rất ngoan cường chiến đấu chống kẻ thù xâm lược. Bọn thực dân Pháp đã bị thất bại trong việc thôn tính, xâm chiếm vùng đất của người Cơ Tu đang sinh sống, tiêu biểu là phong trào chống sưu cao thuế nặng vào những năm 1940 – 1941 người Cơ Tu đã hưởng ứng phong trào khởi nghĩa chống Pháp của Trần Cao Vân năm 1915 - 1916, đỉnh cao là phong trào Săm Trăm, có nhiều người Cơ Tu tham gia làm thủ lĩnh trực tiếp để đấu với quân Pháp.
Các ý kiến mới nhất