Gốc > Đất nước Việt Nam > Nếp sống văn hóa Việt > Văn hóa các Dân tộc Việt Nam >

DÂN TỘC HRÊ


DÂN TỘC HRÊ

Người Hrê sinh sống chủ yếu ở các huyện miền núi Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long tỉnh Quảng Ngãi và huyện An Lão tỉnh Bình Định. Hrê là tên một khúc sông thượng nguồn của con sông  Trà Khúc sau này đã trở thành tên gọi của một tộc danh. Ngoài ra còn có những tên gọi khác như: Mọi Đá Vách, Man Thạch Bích, Chăm Rê, Chom, Thượng Ba Tơ, Mọi Lũy, Mọi Sơn Phòng, Chăm Quảng Ngãi, Mọi Chòm, Rê, Tá Chom, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me ngữ hệ Nam Á, với dân số khoảng 94.534 người.

Người Hrê là cư dân làm ruộng nước khá thành thạo, từ khâu chăm sóc gieo trồng, đến khâu chọn giống, có một trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp khá cao, do học tập và tiếp thu những kinh nghiệm sản xuất của cư dân người Việt. Ngoài việc sản xuất ở ruộng nước ra, người Hrê còn 1àm rẫy cũng chiếm một vị trí quan trọng. Người Hrê quanh năm bận với công việc như cày bừa đất, gieo thóc giống, nhổ mạ cấy, làm cỏ bỏ phân, be bờ tát nước, phát nương làm rẫy. . . .

Công cụ sản xuất của họ còn thô sơ, đơn giản gồm có rìu, dao quắm, gậy chọc 1ỗ, bàn nạo cỏ, cày, bừa, cuốc, liềm, hái, thuổng. Người Hrê coi lúa gạo là nguồn lương thực chính, nền kinh tế phát triển chủ yếu là nông nghiệp cấy lúa, trồng các loại cây lương thực ngô, khoai, sắn, các loại rau, cây ăn quả bầu, bí, lạc, vừng, phụ có chăn nuôi gia súc, đánh bắt cá, săn bắn, hái lượm, đan lát, dệt. Về lưu thông phân phối, buôn bán kém phát triển, vẫn giữ thói quen truyền thống là đổi hàng lấy hàng.

Người Hrê hàng ngày vẫn ăn cơm gạo tẻ như người Việt. Cơm gạo nếp chỉ dùng vào những ngày lễ ngày Tết. Thức ăn là những thứ do trồng được; tôm, cua, cá do đánh bắt được, ít khi phải mua. Các thứ đem nấu canh, kho, luộc bao giờ cũng có muối, ớt, khi có cúng lễ thì thịt lợn, thịt dê, nếu nhỏ hơn thì thịt gà, vịt. Khi hành lễ theo nghi thức xong, những con vật bị hiến sinh này mọi người đều được hưởng.

Thức ăn đựng vào trong các đồ vật được làm bằng mo cau. Người Hrê vẫn giữ tục ăn bốc. Đồ uống là nước lã, nước chè xanh, rượu cần. Thói quen hút thuốc lá, ăn trầu cũng rất phổ biến.

Trang phục cổ truyền của người Hrê: Đàn ông thì đóng khố quanh năm, mặc áo ngắn cài khuy đằng trước, đầu quấn một vòng khăn; phụ nữ có áo yếm, trùm khăn, váy hai lớp dài tới chân? Phổ biến và thông dụng nhất là bộ quấn áo dài, khăn xếp của cư dân người Việt, đã du nhập trong cộng đồng người Hrê có từ hàng trăm năm về trước.

Người Hrê thích dùng màu chàm và màu đen. Đây là hai màu chủ đạo trong trang phục. Trang trí hoa văn ở hai đầu khố của đàn ông và ở phần dưới thân váy của phụ nữ là đường nét rực rỡ. Đặc sắc hơn cả là người Hrê cắt cụt chiếc răng cửa hàm trên. Đàn ông thì trang sức vòng đeo cổ, vòng tay, phụ nữ thì đeo hoa tai, vòng ở chân. Những đồ trang sức này thông thường được làm bằng bạc hoặc đồng hoặc hạt cườm.

Người Hrê ở nhà sàn hai mái, mỗi đầu đốc có hình sừng thú vươn cao. Nhà được chia làm ba phần làm nơi tiếp khách, nơi sinh hoạt của nam giới, ở phía cuối nhà là nơi sinh hoạt của phụ nữ, có vách che bốn mặt để cửa ra vào thông thẳng phần đặt cối giã gạo và cũng là nơi đi lại của phụ nữ trong gia đình. Vị trí nơi ngủ đặt gần bếp lửa. Bếp đầu tiên từ gian tiếp khách vào dành riêng cho vợ chồng chủ nhà, tiếp theo là các bếp của các đôi vợ chồng con cái. Hướng chân người nằm quay vào bếp.

Các gia dình hợp thành làng (Plây) quần tự trên một khu đất rộng có hàng rào bao bọc xung quanh để che chắn bảo vệ, phía ngoài bao bọc là ruộng, rừng, rẫy. Chế dộ chiếm hữu ruộng đất để canh tác có từ lâu. Dân làng chỉ được sở hữu chung nguồn nước, đất bỏ hoang hóa không có chủ, nghĩa địa, con lộ, khúc sông, dòng suối. Còn các loại gia súc, đồi chè vườn cao, cây chuối, bộ chiêng, cái gùi, cây giáo, con dao đều thuộc về sở hữu riêng. Các đồ vật trong nhà không ai được xâm phạm.

Làng trong xã hội người Hrê là một đơn vị tự quản. Người đứng đầu là (K rá plây) - người già có uy tín, gương mẫu, hòa giải mọi hiềm khích, mâu thuẫn trong nội bộ những người trong gia đình với nhau, hay giữa những người cùng một làng hay người làng này với người làng khác. K Rá plây giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, mọi việc đều được dàn xếp phân xử bảo đảm cả về tình lý, giữ cho dân làng luôn được bình yên, sưởi ấm bếp than hồng của tình người, vì thế mà không lạnh lẽo tẻ nhạt họ sống luôn chan hòa với nhau.

Hình thức mê tín thường được áp dụng theo kiểu truyền nghề (cha truyền con nối). Thầy cúng có thể hành lễ cho có nhân một người, hoặc nhiều người hay cả một gia đình, cũng có khi hành lễ cho cả cộng đồng làng. Ngoài ra, mỗi làng còn có năm, bẩy người làm trung gian trong việc trao đổi mua, bán hàng hóa (Prô) cho cả làng, kể cả những vùng hẻo lánh, thung lũng xa xôi để thu về và hưởng một chút ít lợi nhuận, có tính chất dịch vụ cho cộng đồng, không mang tính buôn bán đầu cơ trục lợi.

Trong xã hội người Hrê trước cách mạng tháng Tám năm 1945 đã có sự phân hóa sâu sắc, tạo ra các lớp người khác nhau như: Poong hay kan (giầu có), tắp ka (đủ ăn), pá (mức sống thấp, chật vật) và loại poong - hơ poong dik (là nô lệ vì nợ) tạ thành kẻ giầu người nghèo. Xã hội đã phân chia thành giai cấp. Hiện tượng bóc lột sức lao động, cho vay nặng lãi tuy mức độ khác nhau, lợi dụng tình thân, lợi dụng tập quán tương trợ giúp đỡ, thuê mướn người làm, có cơ hội là chiếm ruộng đất tài sản, nương rẫy, các vật nuôi gia súc, gia cầm nhà ở, đẩy người nghèo vào cảnh khốn khó cùng cực, có gia đình phải thực hiện tập tục ''mười người đi ở đợ'' kèm theo là những sự bất công đối xử tồi tệ của tầng lớp trên giầu có.

Song tính cộng đồng công xã, quan hệ xã hội gắn bó, đùm bọc yêu thương giúp đỡ nhau, là truyền thống đạo lý tốt đẹp của người Hrê, không bị mất đi, ngược lại nó vẫn được phát huy, nhất là trong hai cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, tính cộng đồng càng phát huy nhiều hơn.

Người Hrê quan niệm hệ thống siêu linh gồm có nhiều loại, có các tên gọi, chức năng khác nhau, cũng có ngôi thứ, địa vị khác nhau, nhiều nhất vẫn là tín ngưỡng về ''linh hồn''. Người Hrê cho rằng các linh hồn người chết cũng có cuộc sống riêng ở làng ma. Ý niệm về bà mụ và linh hồn các con vật sự huyền bí còn ẩn tàng trong cái cói giã gạo, bếp đun, những cây cột dầu là những vật linh thiêng trong nhà, đó là một hiện tượng tín ngưỡng, tâm linh mô phỏng có màu sắc tôn giáo, liên quan đến việc sản xuất cấy cày của cư dân nông nghiệp, trồng lúa nước.

Lễ hội đâm trâu được coi là lễ hội lớn nhất của người Hrê. Cho dù lễ hội của cả làng, hay của một gia đình tổ chức thì bao giờ cũng đông vui náo nức rền vang tiếng cồng, tiếng chiêng. Cử hành lễ xong mọi người đều tụ tập ăn uống. Người trẻ ăn Tết vào tháng 10 (âm lịch), sau khi thu hoạch lúa xong.

Kho tàng văn hóa, văn nghệ dân gian của người Hrê cũng rất phong phú và độc đáo, tiêu biểu là điệu ka lêu, ka chơi. Có nhiều truyện kể hay, có các bộ cồng chiêng đồng, bộ ba chiếc, bộ năm chiếc, bộ tám chiếc và bộ mười hai chiếc. Ngoài ra còn có trống, có đàn gầy bvack bvang, có sáo ling la, la, 1a lia, có khèn ra vai, có đàn môi dành cho phụ nữ.

Người Hrê có truyền thống đấu tranh cách mạng rất kiên cường, đã đóng góp sức người sức của cho cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, cuộc bùng nổ chống thực dân Pháp đô hộ, tham gia phong trào Cần Vương của nhà yêu nước Mai Xuân Thưởng, ủng hộ và hưởng ứng phong trào Săm Brăm. Đội du kích Ba Tơ và căn cứ địa Ba Tơ được ra đời ngay trên quê hương người Hrê.

Trong kháng chiến chống Pháp, có nhiều người Hrê tham gia kháng chiến, nhiều thanh niên xung phong vào bộ đội tòng quân giết giặc. Có đơn vị toàn là chiến sĩ người Hrê tham gia chiến đấu ngoan cường tiêu biểu, là liệt sĩ Noi, má Rạch v.v. . .

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy khó khăn thử thách, người Hrê không hề nao núng, vẫn vững tin ở Đảng, ở Bác Hồ, chấp nhận sự hi sinh chứ nhất định không đi theo, không đầu hàng giặc. Phong trào đấu tranh nổi dậy có vũ trang từ giai đoạn năm 1960đến năm 1968 là đỉnh cao của phong trào, làm cho âm mưu dồn dân lập ấp của bọn Mỹ Ngụy đối với vùng có người Hrê sinh sống đều bị thất bạoi, lực lượng vũ trang huyện Ba Tơ có nhiều trận đánh chặn giặc đi càn quét rất táo bạo và mưu trí. Phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng và truyền thống chống giặc ngoại xâm của người Hrê, phải kể đến tấm gương của Đinh Bành Đinh, Tía Đinh Mê, các liệt sĩ Đinh Nghít, Đinh Rưới, lực lượng du kích của các xã Sơn Thành, An Quang là những người con ưu tú, đại diện cho cá nhân và đơn vị được tặng thưởng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, có thành tích trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bảo vệ Tổ quốc.

Hiện nay, trong đời sống văn hoa, chính trị xã hội của người Hrê đã có nhiều thay đổi, đang tiến tới đỉnh cao về kiến thức khoa học kỹ thuật, áp dụng vào trong sản xuất dể xây dựng quê hương ngày càng ấm no hạnh phúc. Với con số 69 người Hrê tốt nghiệp đại học, có nhiều người đã giữ những trọng trách trong các cơ quan của Đảng và chính quyền ở các cấp.



Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 13:37 21/02/2011
Số lượt xem: 645
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến