DÂN TỘC XƠ ĐĂNG
|
DÂN TỘC XƠ ĐĂNG Người Xơ Đăng cư trú chủ yếu ở các tỉnh Gia Rai, Kon Tum, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định. Gồm các nhóm địa phương Xơ Teng, Tơ Đrá, Mâm, Cà Dong, Ha Lăng, Tà Trĩ, Châu; dân số khoảng 97.456 người (tên tự gọi tùy thuộc vào nhóm địa phương). Ngoài tên gọi là Xê Dăng (Sê Dăng) còn có tên gọi khác là Km râng, Con Lan, Brila. Tiếng Xơ đăng thuộc nhân ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Vào khoảng thế kỷ thứ XVIII đến thế kỷ thứ XIX do bị uy hiếp của các thế lực bên ngoài nên tổ tiên các nhóm người Xơ Đăng phải chuyển sâu vào phía đông, nhóm Xơ Teng lui dần vào chiếm vùng núi cao ở Đắc Cây và Dắc Tô và nhóm Ha Lăng phải dời bỏ vùng có nhiều đặc sản quý để về ở Sa Thày, Đắc Cây, sau này phát triển một bộ phận di dân cư trú ở vùng ngoại ô thị xã Kon Tum ngày nay. Người Xơ Đăng làm ruộng nương rẫy là chính, trong đó có bộ phận ở phía đông biết trồng lúa. Riêng nhóm Mnâm không làm rẫy mà nguồn sống chính dựa vào trồng lúa nước, với nông cụ và kỹ thuật canh tác còn rất thô sơ, bằng cách thả trâu cho đầm ruộng, sau đó mới cuốc đất để ải trồng lúa, do vậy năng suất không cao, còn một số bộ phận nhóm địa phương khác sống chủ yếu làm nghề nương rẫy. Vườn của người Xơ Đăng trồng đủ các loại rau xanh, cây ăn quả phục vụ thiết yếu cho nhu cầu cuộc sống, tự lấy một phần lương thực dự trữ, đề phòng những khi giáp hạt, do đó hạn chế vai trò của đi săn bắn hái lượm, phát triển những đàn gia súc vật nuôi trong nhà là khá phổ biến với mỗi gia đình người Xơ Đăng. Nghề thủ công đan, dệt, gốm, mộc nói chung còn chậm phát triển, trình độ kỹ thuật thô sơ không có gì đặc biệt so với cư dân khác ở dọc Trường Sơn và Tây Nguyên. Đặc điểm là họ cư trú ở gần vùng có quặng sắt lộ thiên, do đó mà nhóm Tơ Đrá đã chế tạo ra một loại lò rèn bễ hơi bằng da rất độc đáo, sử dụng rất có hiệu quả, có thể rèn nung nóng từ quặng ra thép, đánh các công cụ lao động và dụng cụ phục vụ gia đình. Ngoài ra, một số sản phẩm nông cụ sản xuất từ các làng nghề Xơ Đăng còn được trao đổi cho các cư dân miền Bắc tỉnh Kon Tum và vùng núi tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định. Ngày nay, do nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, trình độ khoa học kỹ thuật ngày càng cải tiến ở trình độ cao, làng nghề rèn truyền thống Xơ Đăng tuy có được khuyến khích phục hồi, nhưng quy mô mở rộng của nó không bằng những năm trước đây. Nhưng trong quan hệ xã hội, người Xơ Đăng chưa có sự phân biệt về lao động thủ công nghiệp hay lao động nông nghiệp, mà quy đổi dụng cụ đồ vật ra giá, theo quy tắc chung là hàng đổi lấy hàng, nền kinh tế còn mang tính tự cấp, tự túc đưa vào thiên nhiên, nền sản xuất còn thấp kém lạc hậu. Tình trạng đó là do vào cuối thế kỷ thứ XIX xã hội Xơ Đăng ở vào thời kỳ phát triển hùng mạnh, xã hội có giai cấp, người giầu kẻ nghèo, xảy ra nhiều cuộc chiến tranh xâm lược bị xáo trộn và làm suy thoái xã hội Xơ Đăng. Sau đó là sự đô hộ của thực dân Pháp lại lột lần nữa đẩy lùi xã hội Xơ Đăng kém phát triển. Người Xơ Đăng, làng (ploi, plây) là đơn vị hành chính duy nhất gồm một khu dân cư có nhiều nóc (mỗi nóc tương đương với một xóm của người Việt). Nổi bật lên ở mỗi làng là những kho chứa thóc, máng nước, nhà ''rông'' nghĩa địa, gần bìa rừng, gần sông suối, có những khu đất để canh tác. Làng được bao bọc bởi những vạt cây rừng, được ngăn cách với những làng bên là một khu đất trống, cư dân trong làng có hàng rào bao quanh phòng thủ, ken chật bằng tre và các loại cây khác bên hàng rào cài bẫy, đặt chông, chỉ để một lối ra vào nhất định, thanh niên trai tráng được cắt cử luân phiên canh gác bảo vệ làng. Nhà rông chỉ dành cho trai chưa có vợ, hoặc vợ đã chết, mới được ngủ. Nhà rông làm thường trực canh phòng đối phó khi có tình huống bị kẻ khác đến tàn phá cướp tài sản của làng. Người đứng đầu một làng là chủ làng và Hội đồng già làng, để điều hành mọi công việc của làng theo tập quán truyền thống dựa trên nguyên tắc dân chủ tập trung, mọi công việc của làng đều có sự nhất trí của các thành viên, không có sự phân biệt trai gái tuổi tác, chủ làng căn cứ vào đó mà quyết định thi hành, mọi người ai cũng tư giác tuân thủ nghe theo. Dân làng được quyền khai phá chiếm hữu đất đai. Ai làm, ai có công thì người đó hưởng, không làm thì không hưởng, không gây thắc mắc xáo trộn mất đoàn kết trong làng. Nếu ai đi khỏi bàng làm ăn ở nơi khác, thì phải trao trả tất cả ruộng, vườn, nương rẫy cho làng. Người Xơ Đăng chỉ chấp nhận duy nhất là sở hữu tập thể đối với đất đai. Trong một làng cũng có kẻ giầu người nghèo, nhưng không thấy xuất hiện tình trạng dùng hình thức bóc lột, giữa những người cùng làng với nhau, có thể vay mượn, đi làm thuê làm mướn, người giàu có của thì mọi người trọng nể, vì họ có điều kiện tổ chức nhiều lần lễ đâm trâu, nhiều dịp khao làng để họ có dịp khoe của có nhiều trâu nhiều rượu để đãi khách. Xã hội Xơ Đăng sống trong tình thân ái tương thân tương trợ, không có ai vì nghèo quá mà bị bỏ rơi, hoặc không có cái ăn mà nhịn đói. Không có người cứu giúp là hiện tượng hiếm thấy ở trong xã hội cộng đồng người Xơ Đăng, họ sống rất hòa thuận. Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, người giàu thuộc tầng lớp quý tộc, họ có thể sử dụng đày tớ ''nô lệ'', nhưng đối xử như những con cháu trong nhà, thân ái giúp đỡ không - bị đánh chửi hành hạ. Người Xơ Đăng sống thẳng thắn và ôn hòa. Người Xơ Đăng có hiện tượng sống trong các nóc nhà dài, lấy đại gia đình làm gốc, ngoài ra họ còn có nhiều thành viên khác bên chồng, bên vợ, mẹ góa, con côi, người cùng làng cũng kết nghĩa anh em. Cả nóc nhà dài do ông chủ nóc và bà chủ nóc cai quản điều hành. Các gia đình trong nóc làm chung hưởng chung, thóc thường để chung vào một kho, sau đó mới phân chia cho từng gia đình nhỏ. Lương thực và tài sản lớn thì thuộc quyền sở hữu của cả nóc. Mỗi gia đình nhỏ cũng có quyền chăn nuôi các loại gia súc nhỏ, và sản xuất riêng trên một mảnh vườn, mảnh rẫy, khi thu hoạch được quyền tách ra làm của riêng, hoặc nhập vào nóc. Có thể nói gia đình người Xơ Đăng có tính chất “song hệ''. Người Xơ Đăng không có họ, gọi theo kiểu người Việt, tên gọi chỉ có một từ đặt trước để phân biệt giới tính. Người Xơ Đăng đối xử với nhau rất bình đẳng giữa nam và nữ, không phân biệt con đẻ hay con nuôi, con riêng và con chung, cũng không phân biệt con đẻ của mình với con của anh, hay của chị em ruột, con của anh chị em họ. Hiện tượng rất phổ biến là phong tức tập quán kết bạn làm anh em với những người cùng tên hay cùng tuổi, khác làng khác tộc gặp nhau trong một hoàn cảnh tương đồng ý hợp nào đó, họ sẽ coi nhau như anh em ruột thịt suốt đời, con cháu của họ không dược phép kết hôn với nhau. Quan hệ hôn nhân của người Xơ Đăng từ chế độ hôn nhân lưỡng hợp, chuyển sang chế độ hôn nhân tam hợp. Những người sinh ra cùng một thế hệ không phải cùng một khum thì có thể kết hôn được với nhau. Những cá nhân này nằm trong một nhóm hôn nhân (anh em) nhưng nếu hai hay nhiều gia đình cùng làm thông gia với một gia đình, thì các thế hệ con cái của họ không được phép kết hôn với nhau, vì thế mà có những người tuổi từ 30 đến hơn 40 vẫn chưa tìm được bạn tình trăm năm cho mình. Thông thường thì làng này phải có mối quan hệ giao kết với làng khác để trai gái có cơ hội lựa chọn bạn tình, xe duyên kết tóc. Là một quần thể cư dân nông nghiệp, sinh hoạt văn hóa tinh thần của người Xơ Đăng cũng diễn ra theo chu kỳ nông nghiệp. Các nghi thức tôn giáo tổ chức chia ra làm hai giai đoạn, giai đoạn một vào đầu vụ mùa phát nương rẫy, cày cấy, giai đoạn hai đến vụ thu hoạch mùa màng, ngoài ra còn có nhiều cuộc vui chơi, giải trí hội hè, cưới hỏi, làm nhà mới, lễ đâm lâu cầu phúc cho dân làng được ấm no, nhà nhà vui hạnh phúc, mùa màng được bội thu, được tổ chức trong một năm, nhưng tập trung nhiều nhất vào hai tháng giữa thời gian kết thúc vụ thu hoạch. Trong nghi thức lễ nông nghiệp được đề cao vai trò của người ''Mẹ Lúa'' đó là biểu tượng một ý thức hệ coi như một nữ thần nông nghiệp đại diện các nóc và làm chủ các gia đình về mặt tinh thần. Sinh sống trong một xã hội chậm phát triển, người Xơ Đăng chưa có nhận thức và khái niệm về Thần sáng tạo, mà mới chỉ có khái niệm về các vị thần, mỗi vị có một chức năng to nhỏ khác nhau, không phụ thuộc vào nhau, cho nên cũng có nhiều tục lệ kiêng cữ, như tục bỏ mả, chia của cho người chết, tục ma lai, tục để ngoài bìa rừng v.v. . . Người Xơ Đăng rất có năng khiếu về văn nghệ dân gian, ưa thích ca hát, có nhiều truyện cổ, bài hát, điệu múa, có các trò chơi dân gian giải trí còn ở dạng nguyên sơ mang tính địa phương (bản địa). Về nhạc cụ có đàn, nhị, sáo dọc, ống vỗ (kloong bút), trống, chiêng, cổng, tù và, ống gõ, đàn ống nứa mỗi khi sử dụng nhờ ở sức nước và còn nhiều loại nhạc cụ khác. Với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, người Xơ Đăng đã đổi mới về phương thức sản xuất, có những tiến bộ tột bậc về kinh tế, văn hóa xã hội, xây dựng đời sống ấm no hạnh phúc ngay trên quê hương mình. |
Nguyễn Hải @ 13:35 21/02/2011
Số lượt xem: 846
- DÂN TỘC KHƠ ME (21/02/11)
- DÂN TỘC CHỨT (21/02/11)
- DÂN TỘC THỔ (21/02/11)
- DÂN TỘC MƯỜNG (21/02/11)
- DÂN TỘC VIỆT (21/02/11)
Các ý kiến mới nhất