Gốc > Đất nước Việt Nam > Nếp sống văn hóa Việt > Văn hóa các Dân tộc Việt Nam >

DÂN TỘC KHƠ ME


DÂN TỘC KHƠ ME

Người Khơ Me ở nước ta chủ yếu cư trú ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long như Tây Ninh, An Giang, Tiền Giang, Sóc Trăng, Cần Thơ, Kiên Ciang và rải rác một vài địa phương khác. Họ sống trải dài thành các Phun, Sóc xen kẽ với người Việt và người Hoa. Cho đến khoảng những năm đầu của thế kỷ XX, có một bộ phận người Khơ Me đã ra định cư ở một số đô thị, thị trấn, thị xã và cả thành phố Hồ Chí Minh do thay đổi về cuộc sống xã hội, họ làm đủ mọi thứ ngành nghề, đại bộ phận đã có cuộc sống ổn định.

Dân số khoảng 896.458 người. Tên gọi khác: Cun, Cul, Cu, Thổ, (Việt gốc Miên) Khơ Me, K'Rôm. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me. Tổ tiên người Khơ Me là cư dân đến rất sớm khai phá (vùng sông nước) đồng bằng sông Cửu Long, từ thế kỷ XVI đã biết làm nông nghiệp và trồng cây lúa nước. Họ có kỹ thuật canh tác gieo trồng phù hợp với khí hậu, sinh thái cho thu hoạch sản lượng cao, nhất là những kinh nghiệm làm thủy lợi ''dẫn thủy nhập điền'' dẫn nước về đồng ruộng rất phong phú và đa dạng, từ các nguồn nước dự trữ như nước mưa, nước giếng đào làm đường dẫn nước tưới cho đồng ruộng rất có hiệu quả.

Công cụ sản xuất nông nghiệp truyền thống xem hình thức bề ngoài còn có vẻ thô sơ, nhưng nó lại có tác dụng với thổ nhưỡng của vùng đồng bằng Nam Bộ như “phảng'' thay cho các cày, chuyên dùng ở vùng đất phèn, chua mặn, cái cù nèo “Pok'' dùng để vơ cỏ, cây nọc cấy ''Sơ chai'' (hình thức giống như cây gậy thời xa xưa đùng để chọc lỗ tra hạt) người Khơ Me đã tạo ra những lô để tiếng lúa, ở nhưng ruộng nước, cái vòng gặt ''Ken điêu'' dùng để cắt lúa, tương tự như người Việt dùng ''hái'' dể gặt lúa.

Trên khắp các ruộng rẫy ''Chăm Ka'' họ trồng hoa màu đủ các loại ngô, khoai, sắn, vừng, lạc, đậu, mía và trồng các loại rau có củ để cải thiện cho bữa ăn. Chăn nuôi là nghề phụ của mỗi gia đình, dùng sức trâu, bò để kéo xe chuyên chở nguyên vật liệu nặng như gỗ hoặc nông sản trong mùa thu hoạch. Do hoàn cảnh sống ở vùng có nhiều kênh, rạch, người Khơ Me đã tự tạo ra nhiều loại xuồng ''Ba Lá'' ghe ''Tăm Băn”, hoặc thuyền, “Tắc Răn'' hay thuyền ''Đuôi Tôm''. Những năm gần đây đã có sự cải tiến thành ghe gắn máy chạy bằng động cơ, nhưng đặc biệt hơn cả là chiếc ghe ngo ''Mốc Mun” có ít nhất từ 30 đến 40 người chèo lái, ở hai bên thành thuyền sơn vẽ, trang trí hình con voi và sư tử.

Ghe ngo chi dùng trong dịp lễ chào mặt trăng ''Ok-ăng-bok'' vào tháng 10 âm lịch hàng năm. Khi lễ xong được đem cất giữ ở trong chùa, coi như một vật thiêng, ai cũng tự thấy mình có bổn phận trông coi gìn giữ, để cho mùa lễ hội năm sau, cầu cho dược ''mưa thuận gió hòa” làm ăn được suôn sẻ thịnh vượng, nhà nhà vui hạnh phúc.

Ngoài nghề chính làm nông nghiệp ra, người Khơ Me cũng rất thành thạo công việc đánh bắt cá, song có rất ít người làm nghề này, chủ yếu đi đánh bắt cá để cải thiện cho bữa ăn hàng ngày. Người phụ nữ Khơ Me với đôi bàn tay khéo léo mềm mại rất giỏi việc đan lát thủ công, dệt vải, dệt chiếu, làm đường thết nết, làm đồ gốm có tính chất tự sản tự tiêu trong cộng đồng người Khơ Me, cũng được đông bào bà con người Việt, người Hoa ở vùng đồng bằng sông Cửu Long ưa chuộng.

Người Khơ Me có hơn 150 giống lúa tẻ và lúa nếp. Trong đời sống hàng ngày của họ sử dụng cả hai loại cơm tẻ và cơm nếp ngang bằng nhau, ta khó mà phân biệt cái nào chính cái nào phụ. Thức ăn bao gồm có tôm, cua, cá loài nhỏ, ốc, ếch, các loài rau xanh, củ chế biến ra nhiều loại mắm rất thơm ngon như mắm ''pơ inh'' làm bằng nguyên liệu cá sặc, mắm ''ơn pư” được làm bằng tôm tép, nhưng nổi tiếng hơn cả là loại mắm “b’ hóc'' nguyên liệu là cá sọc, cá trê, tôm tép trộn với thính và muối.

Những phum sóc truyền thống của người Khơ Me nằm ẩn sau những tàu lá dừa và dưới bóng cây thốt nốt: Giữa mấy chục ngôi nhà nổi lên là một ngôi chùa, đầy vẻ uy nghi tôn kính tạo nên một quần thể có quy hoạch, có tổ chức. Nhà làm với quy mô vừa phải, mái lá nền đất, gồm hai mái chính và hai mái phụ. Những nhà sàn cổ của người Khơ Me hiện nay còn rất ít, dùng để 1àm nơi hội họp. Do có sự thay đổi về đời sống, một bộ phận người Khơ Me định cư ở thành phố, thị trấn, thị xã đã xây đựng nhà gạch mái bằng hoặc nhà tầng kiên cố.

Chùa của người Khơ Me xây dựng rất độc đáo để thờ Phật, theo hệ tiểu thừa có trang trí vẽ tranh mô tả cuộc đời khổ luyện đi tu của Đức Phật.

Người Khơ Me đứng tuổi ngày thường họ thích mặc quần áo “bà ba đen'' giống như người Việt, phụ nữ thì có thêm chiếc khăn rằn, khi thì đội trên đầu, khi thì vắt qua vai rất mềm mại duyên dáng. Lớp người trẻ tuổi ngày xưa thường mặc bộ xa rông do họ tự dệt bằng sợi tơ tằm, ngày nay thì họ mặc quần âu áo sơ mi. Ngày lễ, ngày hội trên khắp các phum sóc hay ở sân chùa ta thường thấy các cụ già mặc áo dài với chiếc quần ống rộng màu đen, chít trên đầu chiếc khăn trắng trùm qua vai. Đặc biệt trong ngày cưới, cô dâu, chú rể mới mặc quần áo cổ truyền, chú rể mặc bộ ''xà rông'' áo màu đỏ cổ đứng, có hàng khuy trước ngực, bên vai trái quàng chiếc khăn dài màu trắng “kal xinh'' và đem theo con dao cưới ''kăm pách'' để bảo vệ cô dâu. Còn cô dâu thì mặc ''xăm pốt'' váy màu tím hay màu hồng, áo dài màu đỏ quàng khăn, đội mũ cưới truyền thống rất độc đáo, chắc khỏe và duyên dáng.

Gia đình của người Khơ Me là gia đình nhỏ phụ quyền, một vợ một chồng ở riêng, độc lập về kinh tế, vợ chồng con cái sống chung trong một gia đình rất hòa thuận, bình đẳng. Trước đây việc dựng vợ gả chồng cho con cái, thường do cha mẹ xếp đặt nhưng việc tự do lựa chọn hôn nhân của con cái cũng được cha mẹ tôn trọng, hiếm thấy có tình trạng kết hôn do tảo hôn bắt buộc của cha mẹ.

Hiện nay những gia đình có ba, bốn thế hệ ông bà, cha mẹ cùng sống chung trong một nhà là hiện tượng khá phố biến, không phải là hiếm. Chính vì vậy người Khơ Me không chỉ có quan hệ hôn nhân với người dân tộc mình, mà còn kết hôn với nhiều người dân tộc khác trong đó có người Việt, người Hoa có tỷ Lệ hôn nhân hỗn hợp đến 55%.

Do những tàn dư kiểu gia đình mẫu hệ mà trước đây họ kết hôn cả với người bên họ ngoại, như: Con dì, con già, con cô, con cậu. Từ khi nước Việt Nam thống nhất (năm 1975) thực hiện luật ''Hôn nhân và gia đình'', người Khơ Me mới bỏ được tục lệ này, thực hiện quan hệ hôn nhân lành mạnh và tiến bộ.

Hệ thống tên gọi của người Khơ Me cũng khá phức tạp, có nhiều họ khác nhau, lại có một số họ do triều nhà Nguyễn trước đây đặt họ gốc lai Việt, Hoa họ có âm thuần túy Khơ Me như: C Khâm Khum Danh, Kiên, Kim, Sơn, Thạch, lại có họ do ảnh hưởng tiếp thu từ người Việt, người Hoa thí dụ như họ Trần, Nguyễn, Dương, Trương, Mã, Lý, Lại v.v. . .

Tình trạng ngoại tình, quan hệ hôn nhân bừa bãi loạn luận, ly hôn trong xã hội người Khơ Me ít xảy ra, đó là một điều kiêng kị, nghiêm cấm của dòng họ và của cả cộng đồng.

Bộ máy quản lý cái phum sóc trước đây thường là người già có kinh nghiệm và uy tín được nhân dân bầu ra để chăm lo công việc xã hội, giữ gìn an ninh trật tự, giải quyết những xích mích, mâu thuẫn của vợ chồng, của cả dân trong phum sóc. Sau này cái tên mê phum, mê sóc dùng để gọi các cấp trưởng, xã trưởng trong bộ máy cai trị của chính quyền thực dân Pháp.

Người Khơ Me theo đạo Phật, Phật tiểu thừa đã du nhập vào từ thế kỷ thứ XIII, trở thành một tôn giáo chính thống, không thể thiếu trong đời sống tinh thần. Họ đã xây dựng hơn 400 ngôi chùa với 10.650 sư sãi trên vùng đồng bằng sông Cửu Long, nơi có người Khơ Me cư trú. Con trai từ 15 tuổi thường thấy đi tu trong chùa, để được nghe giảng về thuyết pháp đạo lý của Phật, đồng thời còn được học chữ, học văn hóa để nâng cao kiến thức. Chùa là trung tâm sinh hoạt tôn giáo tín ngưỡng và tinh thần của người Khơ Me.

Sau khi đã hết nghĩa vụ tu hành ở chùa từ 3 đến 5 năm mới được phép hoàn tục, mới có quyền lập gia đình, trở về cuộc sống đời thường. Người Khơ Me thờ Phật, tổ tiên và các hình thức nghi lễ nông nghiệp như cúng thần ruộng (Neo Tà xiê), gọi hồn lúa (Ok ang, bok), thần mặt trăng (Ok ang bok).

Khi chết thì xác đem hỏa táng, tro xương đem vào chùa gửi ở tháp (Pì chét đầy). Đây là một hình thức mang tính chất tín ngưỡng tôn giáo sâu sắc gắn liền với đời của một con người, từ khi còn sống đến khi chết hồn và xác vẫn hướng về cõi Phật, với lòng từ bi hướng về cái thiện.

Người Khơ Me có một nền văn hóa phong phú, đa đảng với nhiều thể loại như tục ngữ, dân ca, thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười.

Dân ca có hát ru, hát trong lao động, hát đối đáp giữa nam và nữ, hát ngẫu hứng, chuyện kể dân gian rất gần gũi với người Việt như truyện: Chao Thông Chao Thanh thạch Sanh - Lý Thông), truyện Niêng-mô-rơ-nác-mô-da (Tấm Cám), ngoài ra còn có nhiều truyện kể khác như: Sự tích núi Bà-Đen, ao Bà Om, giếng Chị - giếng Anh. Người Khơ Me có nền văn hóa viết trên lá có tên gọi là Xillira, ghi chép các truyện dân gian hội hè, trò chơi, huấn ca và Phật thoại, được biểu diễn vào 2 ngày lễ lớn trong năm là Tết Chuồn Chnam Thây, được tổ chức từ ngày 1 đến ngày 3 đầu tháng (theo Phật lịch) tục vào khoảng tháng 4 dương lịch.

Người Khơ Me đã từ lâu kề vai sát cánh với người Việt khai  phá vùng đồng bằng sông Cửu Long thành những vực lúa trù phú, mỗi khi hoạn nạn đều cùng nhau vượt qua khó khăn. Người Khơ Me vốn có truyền thống đấu tranh cách mạng, tiêu biểu là cuộc nổi dậy của ACha Cvi (1820), Te va Sôm (18/1) ở Trà Cú tỉnh Vĩnh Long, chống lại ách hà khắc của phong kiến triều nhà Nguyễn, được người Việt ủng hộ.

Người Việt và người Khơ Me cùng chung sức chung ách đô hộ của thực dân Pháp, lãnh tụ của phong trào là Trương Quyền và nhà sư Pu côm pô (1864). Từ khi có Đảng lãnh đạo, người Khơ Me đã một lòng đi theo Đảng. Suốt trong chặng đường đấu tranh cách mạng ngay từ những năm 1931 đến năm 1938, phong trào nông dân Việt - Khơ Me nổi dậy chống sưu cao thuế nặng lan rộng khắp vùng đồng bằng sông Cửu Long, làm cho bộ máy cai trị của bọn thực dân Pháp thất điên bát đảo, trên toàn quyền Đông Dương phải chạy vội về Pháp xin chỉ thị của ''mẫu quốc''.

Trong hai cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, người Khơ Me đã đóng góp sức người sức của và cả xương máu, tiêu biểu là phong trào đồng khởi nghĩa chống Mỹ - Ngụy ở Bảy Núi, chống việc dồn dân lập ấp ly khai với cách mạng của địch, nhiều tấm gương chiến đấu hi sinh dũng cảm như Châu Út ở Ô Lâm, tinh thần chống Mỹ - Ngụy của các nhà sư như Đa-Đức-Son-Vong, Hòa thượng Thạch Sem, Lvi Sa rát v.v. . . .

Từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đông đảo người Khơ Me đã có những biến đổi to lớn về cuộc sống văn hóa, tinh thần. Đã có nhiều cải tiến về quan hệ sản xuất tiên tiến, xóa bỏ những lề lối và phương thức làm ăn cũ, những hủ tục lạc hậu, tổ chức sản xuất theo mô hình lưới, thành lập các tập đoàn sản xuất và hợp tác xã đã phát huy mọi khả năng nội lực hiện có đạt năng suất chất lượng cao, vượt chỉ tiêu về thu hoạch lúa. Con em người Khơ Me ngoài học chữ phổ thông (chữ Việt) ra còn học chữ Khơ Me, trên sóng phát thanh và truyền hình có dành riêng chương trình phát bằng tiếng Khơ Me.

Người Khơ Me ngày nay càng tin yêu Đảng, tin yêu Bác Hồ, không bao giờ nghe theo bọn người xấu và các thế lực thù địch khác chống phá cách mạng, quyết một lòng giữ gìn an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội trong phum sóc để bảo vệ cuộc sống bình yên, ấm no và hạnh phúc.



Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 13:35 21/02/2011
Số lượt xem: 1247
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến