Gốc > Đất nước Việt Nam > Nếp sống văn hóa Việt > Văn hóa các Dân tộc Việt Nam >

DÂN TỘC CƠ HO


DÂN TỘC CƠ HO

Người Cơ Ho là Cư dân sinh sống lâu đời ở cao nguyên tỉnh Lâm đồng, dọc theo đường quốc lộ số 20 từ phía bắc thành phố Hồ Chí Minh đi thành phố Đà Lạt. Tổ tiên người Cơ Ho cư trú xen lẫn với một số dân tộc anh em khác như dân tộc Nông, dân tộc Mạ nên phần nào bị ảnh hưởng giao hòa, gần gũi với nền văn hóa của hai dân tộc láng giềng này, có những nhóm Cơ Ho chúng ta mới gặp, khó phân biệt với người Mnông, người Mạ đó là nét đặc trưng của người Cơ Ho. Dân số khoảng 92.524 người, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khơ Me, ngữ hệ Nam Á, tên tự gọi là Cơ Ho.

Trong cộng đồng người Cơ Ho có nhiều nhóm địa phương, trước hết phải kể đến nhóm:

1. Xrê có dân số đông nhất, tập trung ở cao nguyên Di Linh, đặc biệt trong đó có nhóm người gọi là Măng Tô ở phía nam huyện Bảo Lộc và nhóm người Riêu ở huyện Bảo Trọng.

2- Núp (Tờ núp tơ la) có dân số đông vào hàng thứ hai trong cộng đồng người Cơ Ho, cư trú ở phía nam huyện Di Linh, dọc đường 12 xuôi Phan Thiết.

3- Cơ Dòn gồm cả nhóm La Gia (Laya) cư trú ở phía nam huyện Di Linh.

4- Chil gốc người Mnông nay họ đã hòa nhập vào cộng đồng người Cơ Ho, sinh sống trên cao nguyên Di Linh và Lâm Viên (Lâm Hà).

5- Lát (Lách) 1à cư dân chủ thể trên cao nguyên Lâm Viên, sống tập trung ở bắc thành phố Đà Lạt.

6- Tơ Ring (T' Ring) tập trung ở huyện Đơn Dương và có một số cư trú ở tỉnh Phú Yên, tỉnh Khánh Hòa.

Các nhóm nói trên đã tạo thành một nhóm Cơ Ho thống nhất. Tập quán xưa kia của người Cơ Ho. chủ yếu là làm nương rẫy, theo chu kỳ khép kín, trồng hai năm bỏ hóa mười năm, hoặc mười lăm năm, rồi trồng lại, chỉ có nhóm Chil, Núp là biết sử dụng trâu quần ruộng trũng cho tơi đất, rồi gieo hạt, ngoài ra họ còn biết dùng sức trâu kéo có con lăm gạt san mặt ruộng.

Đặc biệt hơn cả là các nhóm Xrê, Lát (Lách) đã biết 1à ruộng nước, có trình độ kỹ thuật canh tác tương đối cao, với các hệ thống mương, phai dẫn nước tưới tiêu cho đồng ruộng hợp lý, có hiệu quả. Ở những nhóm Cơ Ho làm ruộng nước họ không gieo mạ, hạt giống được gieo trực tiếp xuống chân ruộng, giống như người Việt ở một số vùng Nam Bộ trước đây sau này một số nhóm Cơ Hơ đã thuần thục được rẫy, chuyển thành ruộng khô trồng lúa được nhiều năm. Công cụ dao động chủ yếu của người Cơ Ho là dùng cuốc, một số vùng đã biết cày, bừa lẫy, có nơi thì chọc lỗ để tra hạt. Rẫy của người Cơ Ho là đa canh, lúa là cây lương thực chính ngoài ra còn trồng ngô, đậu, bầu bí, rau, dựa, bông, thuốc lá các loài cây ăn quả, cây sắn (củ mì) cũng cung cấp một lượng lương thực đáng kể trong cuộc sống của người Cơ Ho.

Người Cơ Ho có nghề phụ như đan, dệt. Nghề sản xuất gốm phát triển mạnh nhất ở nhóm Xrê, nghề rèn ở nhóm Núp (tờ úp tơ la) song nói chung trong cộng đồng người Cơ Ho phát triển nhiều nhất vẫn là nghề đánh bắt cá vì họ sống ở những vùng có nhiều sông, suối. Đàn ông Cơ Ho rất giỏi săn bắn thú rừng, nhưng hơn 10 năm qua vì sự nghiệp bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ các loài động vật, người Cơ Ho đã tự nguyện không vào rừng săn bắn nữa, hiện nay nghề săn bắn không phát triển. Trong đời sống sinh hoạt chủ yếu là trao đổi hàng hóa, nó là một thương trường giao lưu các sản vật thủ công truyền thống, lâm thổ sản quý hiếm để đổi lấy muối, đồ kim khí gia dụng, nông cụ, chăn, màn, quần áo phục vụ cho nhu cầu cuộc sống. Theo truyền thống của người Cơ Ho, đàn ông đóng khố, phụ nữ mặc váy ngắn màu đen có trang trí hoa văn màu trắng, viền dọc theo thân váy, khi trời lạnh thì cuốn thêm chăn bên ngoài.

Người Cơ Ho thường ăn ba bữa trong một ngày, thời trước kia các đồ ăn cơm, canh, rau, thịt vẫn nấu trong ung nứa, nhưng khoảng từ năm 1960 trở lại đây, mới được đun nấu bằng nồi đất, nồi kim khí đồng, nhôm, gang mới được dùng phổ biến. Các món ăn khô theo tập tục thói quen lạc hậu ăn bốc, thịt cá đem kho, hay luộc nấu, thường thái cho thêm bẹ của thân cây chuối non, đồ uống chủ yếu bằng rượu cần, nước suối rất được mọi người ưa chuộng, hay dùng vào dịp lễ, hội, cưới hỏi, ngày vui của dân làng. . . .

Nhà ở theo kiểu truyền thống của người Cơ Ho là loại nhà sàn dài, bao gồm có nhiều gia đình nhỏ ở, có những ngôi nhà cổ dài hàng trăm mét. Hiện nay, nhà sàn chỉ có từ 20 mét đến 30 mét, hiếm thấy những ngôi nhà cổ còn sót lại, ở những nóc riêng lẻ đã tạo thành một chòm, một xóm, cũng có khi tập hợp ở sát nhau trong một thung cũng, thành một làng biệt lập có cuộc sống ổn định. Các làng dù sống tập trung hay ở rải rác đều được gọi là ''Bon''. Đứng đầu một bàng, có chủ bàng (Ku ang ban) và một Hội đồng già bàng bao gồm các chủ nóc, để giải quyết mọi việc trong đời sống sinh hoạt xã hội của dân làng, mang tính cộng đồng, là chỗ dựa tinh thần đáng tin cậy cho cả làng. Xã hội của người Cơ Ho, ở vào cuối giai đoạn chuyển tiếp từ thế kỷ XVIII đã có sự phân hóa giữa kẻ giàu người nghèo, quyền năng chiếm hữu ruộng đất, nương rẫy, 1àm phát sinh những mâu thuẫn trong quan hệ xã hội, hiện tượng vay mượn, thuê mướn nhân công ở một số người giàu khá phổ biến dẫn dến có nhiều gia đình nghèo, phải cầm cố ruộng vườn hoặc đem bán, có tính chất bóc lột nhiều hơn là hình thức tương trợ giúp đỡ.

Đặc điểm của người Cơ Ho là theo dòng họ mẹ. Có lẽ vì thế con gái đến tuổi trưởng thành phải cưới cho mình một tấm “lang quân''. Người chồng phải về ở nhà mẹ vợ, sau này có con cái sinh ra phải theo dòng mẹ, tuy vậy trong quan hệ xã hội cộng đồng người Cơ Ho, vẫn được đối xử bình đẳng giữa nam và nữ một cách lõ rệt, người phụ nữ được làm chủ trong gia đình, và quán xuyến mọi công việc nội trợ, như các việc ăn ở, sinh hoạt nuôi dạy cơn cái, các việc của dòng họ, ma chay cưới hỏi, làm nhà mới, người đàn ông thì có quyền hạn tham gia các công việc ngoài xã hội.

Người chết được mai táng như các cư dân láng giềng khác ở Tây Nguyên, trong đó tục chôn chung một huyệt giữa các thành viên trong gia đmh, tục này đến nay vẫn còn tồn tại Người Cơ Ho cho rằng mọi mặt của đời sống con người đều do các đấng thần linh tối cao quyết định, ủng hộ con người được mạnh khỏe, đủ ăn đủ mặc, xua đuổi nghèo khó rủi ro, đó là các vị thánh (Y ang) chuyên làm việc thiện cứu giúp con người, bên cạnh cái thiện là có cái ác ma quỷ (Cha) thường hay gieo rắc tai họa cho con người.

Chính vì những quan niệm như vậy mà người Cơ Ho làm bất cứ việc gì, từ làm nhà, làm ruộng, cưới hỏi đến việc tang ma, ốm đau đều phải cúng lễ để cầu xin lấy sự may mắn, đồ vật cúng lễ thông thường là rượu thịt, có khi lễ sống cả thân con dê, lợn, gà v.v. . .

Trong các lễ nghi của người Cơ Ho, có nhiều hình thức ý nghĩa khác nhau, nó liên quan đến việc làm nương rẫy, làm ruộng, gieo lúa khi đến mùa thu hoạch, đập lúa cho lúa và kho, đó là những lễ nghi quan trọng, diễn ra thường xuyên trong một năm.

Bàn thờ (nao) thường đặt ở nơi trang trọng và tôn nghiêm nhất ở trong nhà, được làm bằng những ván gỗ ghép lại, với một tấm lòng thành kính, đó 1à những tín ngưỡng tôn giáo truyền thống vẫn còn tồn tại đến ngày nay đầy sức sống, tâm linh và huyền bí.

Người Cơ Ho có chữ viết được xây dựng trên cơ sở hệ thống chữ La tinh vào những năm đâu của thế kỷ XX nhằm mục đích truyền đạo Ki tô, mặc dầu đã được cải tiến phiên âm nhiều lần, song loại chữ này cũng chưa thật sự phát triển, có chỗ đứng vững chắc cho cộng, đồng người Cơ Ho.

Vốn văn học nghệ thuật của người Cơ Ho rất phong phú. Thơ Cơ Ho được gọi là Tam pla giầu chất trữ tình và giàu âm điệu. Một số bài ca điệu múa cổ truyền thường được biểu diễn vào các ngày lễ hội. Các nhạc cụ có chiêng, trống, khèn, đàn, sáo cồng chiêng (bộ 6 chiếc), đàn ống bầu, đàn ống tre. Có khi các nhạc cụ này biểu diễn hòa âm (cả dàn nhạc), đôi khi dùng biểu diễn độc tấu (đơn chiếc) rất độc đáo, có âm hưởng âm vang núi rừng và có sức truyền cảm thiết tha.

Trong hai cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, kẻ thù đã lợi dụng người Cơ Ho bằng cách dồn ép xáo trộn về mặt di dân cư trú, để phá vỡ những quan hệ họ hàng, dòng tộc, làng xóm, lung lạc tinh thần, tuyên truyền phản cách mạng, để truyền đạo Tin lành trong cộng đồng người Cơ Ho, hòng biến người Cơ Ho xa rời với cách mạng, xóa đi những bản sắc văn hóa tốt đẹp của dân tộc.

Song Đảng và cách mạng vẫn gần gũi với người Cơ Ho, do vậy đại đa số họ vẫn một lòng một dạ đi theo Đảng, không bị kẻ địch lợi dụng, lừa gạt, tiêu biểu là phong trào đấu tranh nổi dậy chống Mỹ của đồng bào Cơ Ho với căn cứ dịa Nam Sơn và khu căn cứ trên cao nguyên Di Linh Lang Bang là hậu phương đáng tin cậy của cách mạng.

Cuộc sống của đồng bào Cơ Ho ngày nay đã đổi khác, có gần một phần hai dân số đã thoát nạn mù chữ, con em người Cơ Ho đã được đi học trường phổ thông, khi ốm được khám chữa bệnh, giảm được đói nghèo.


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 13:36 21/02/2011
Số lượt xem: 640
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến