Gốc > Đất nước Việt Nam > Nếp sống văn hóa Việt > Văn hóa các Dân tộc Việt Nam >

DÂN TỘC BA NA

DÂN TỘC BA NA

Người Ba Na cư trứ chủ yếu ở vùng Trung Trung Bộ, ven dải Trường Sơn và Tây Nguyên, các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Bình Định, Quảng Ngãi, Phú Yên và Khánh Hòa.. Là cư dân nổi tiếng Môn - Khơ Me đông nhất, thuộc ngữ hệ Nam Á, có dân số khoảng 138.864 người, bao gồm các nhóm địa phương: Rơ Ngao, Rơ Lơng (hay Y Lăng) Tờ Lô, Gờ Lar, Krem, Van Canh chiếm một địa vị quan trọng nhất ở vùng Trường Sơn, Tây Nguyên. Tên tự gọi là Ba Na tên gọi khác là Bơ Năm, Roh Kon, Kde, Ala, Kông, Kpang Kông. Người Ba Na là một trong những cư dân cổ xưa ở Trường Sơn, họ đã được bia ký Chàm nói đến gọi là ''Ma da'', trước kia họ sinh sống ở ven biển các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, sau di chuyển lên Tây Nguyên sinh sống ở các địa hình khác nhau. Họ sinh sống bằng nghề trồng lúa trên ruộng khô, rẫy, chỉ khoảng 80 năm trở lại đây mới làm quen với tập quán trồng cây lúa nước.

Người Ba Na biết tiếp thu kỹ thuật canh tác và gieo trồng hoa màu trên nương rẫy theo chu kỳ khép kín, họ có trình độ phát triển kinh tế xã hội khá cao. Do làm ruộng khô, trồng lúa thường ở những nơi ven sông, ven suối, ruộng khô khác với rẫy, nên muốn tận dụng hết diện tích thâm canh không bỏ hoang, phải đứng cuốc là loại công cụ lao động có hiệu quả. Vườn của người Ba Na theo mô hình ''đa canh” phát triển toàn diện, phổ biến là trồng cây bông, đay, chàm, thuốc lá, đan xen với cây lương thực như ngô, khoai, sắn, kê v.v...

Việc canh tác tính theo nông lịch được tuân thủ thực hiện một cách rất chặt chẽ, một năm lao động trong 10 tháng, dành ra 2 tháng để ăn chơi, nghỉ ngơi vui hội hè gọi là: ''Ning nông'' để làm những công việc cưới hỏi, sửa nhà cửa, cúng lễ, trao đổi hàng hóa sản vật, thời gian nghỉ ngới do mỗi địa phương, mỗi gia đình tự chọn lựa. Công việc chăn nuôi gia súc, gia cầm và nghề thủ công đan, dệt, gốm, rèn, v.v. . . còn chưa phát triển. Người Ba Na có tập quán lâu đời là thông qua các lái buôn từng đoàn người, hàng năm đổ về chợ miền xuôi đổi hàng hóa sản vật, nhu yếu phẩm phục vụ cho đời sống.

Người Ba Na thường ở nhà sàn truyền thống, cửa ra vào mở về phía mái, trên hai đầu đốc có trang trí hình sừng trâu. Ở giữa làng có dựng nhà ''Rông'' còn gọi là ''Nhà Làng'' là nơi cho cả làng đến hội họp, vui chơi, ca hát giải trí. Nhà Rông thiết kế theo truyền thống có 2 mái võng dài cao vút.

Người Ba Na cư trú theo đơn vị hành chính là làng (plây) và cũng là đơn vị hành chính duy nhất, cư dân trong mỗi làng sẽ hợp thành cộng đồng xã hội, coi như là ''một lãnh thổ riêng'' song đất đai được coi như thuộc quyền sở hữu của toàn dân.

Đại diện mỗi làng có một người đứng đầu (gọi là Tơm plây) tức là Chủ làng và một Hội đồng già làng, giải quyết những vấn đề có liên quan, mang tính chất xã hội của làng. Trước đây, những trai tráng khỏe mạnh chưa vợ thường tập trung tại nhà Rông, làm lực lượng dân binh thường trực, để tuần tra canh gác bảo vệ làng, giữ gìn tài sản cho dân trong làng, đánh bắt bọn cướp và người ở làng khác đến lấn chiếm đất đai, ruộng, rẫy của họ.

Người Ba Na sống đôn hậu, phóng khoáng, thích giao lưu kết bạn với ngươi ở làng khác, địa phương khác, cũng có thể là người dân tộc khác trong quan hệ mua bán trao đổi hàng hóa sản vật, tạo nên sức mạnh liên kết giữa làng này với làng khác, để bảo vệ khi có người ở nơi khác đến tranh chấp đột nhập, phá hoại. Đó là một quan hệ truyền thống tương trợ giúp đỡ lẫn nhau một cách tốt nhất và có hiệu quả, cả trong việc bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái.

Truyền thống tốt đẹp của người Ba Na rất tôn kính người già, người cao tuổi nói chung, con cháu trong gia đình và người trẻ tuổi trong xã hội bao giờ cũng làm theo lời chỉ bảo, dạy dỗ của họ người già. Người phụ nữ Ba Na có địa vị quan trọng trong gia dình và xã hội, được bình đẳng như nam giới, gánh vác và tham gia vào tất cả các công việc của làng, của gia đình và xã hội.

Phương tiện vận chuyển vẫn dùng sức người làm chủ yếu, với chiếc gùi cõng trên lưng, có thể kích cỡ to nhỏ có khác nhau cho hợp với lứa tuổi, gùi vẫn là phương tiện vận chuyển chủ lực hiện nay của người Ba Na, vì nó phù hợp với đặc điểm địa hình ở miền núi.

Theo truyền thống của người Ba Na tôn trọng nguyên tắc một vợ một chồng, sống chung thủy, có nghĩa vụ thương yêu cùng chung nuôi dạy con cái. Hình thức luân cư sau ngày cưới 1à hiện tượng khá phổ biến theo định kỳ, hết ở bên nhà vợ bao nhiêu ngày, rồi lại dọn về nhà chồng ở bấy nhiêu ngày (là số ngày tương ứng với mỗi bên) do vợ chồng tự thỏa thuận, cho đến khi hết thời gian luân phiên, hai vợ chùng mới được phép ở riêng, để tạo dựng cho mình một cơ ngơi mới, một thành viên mới của dân làng. Người Ba Na sống theo chế độ mẫu hệ, rất coi trọng huyết thống xưa ở chung một mái nhà, cùng chung một ông bà gốc (Bo'k tơm-da tơm) nay được chia ra làm nhiều gia đình nhỏ nhưng vẫn có những quan hệ chặt chẽ mật thiết với nhau.

Tất cả các thành viên trong một gia đình thường là lao động chung, ăn chung, tài sản chung, mọi việc điều hành phải do sự sắp xếp của chủ nhà, mọi người tự giác thực hiện. Các con, các cháu trong gia đình thường đặt tên theo vần hoặc theo âm gần giống với tên của cha, hoặc mẹ, cũng có thể là của người thân.

Người Ba Na không có họ, cũng không có từ đệm để chỉ sự phân biệt giới tính, vì thế trong làng không có hiện tượng trùng tên. Khi phân biệt giữa người trùng tên giữa các làng, các địa phương khác, người ta thường gọi tên người đó trước tên làng, thí dụ: “Núp băng Si Tơ Branh làng Kon Xu''.

Trong quan hệ xã hội, người Ba Na đề cao vị trí của nam giới, giữ một vai trò quan trọng. Trong việc xác định huyết thống dòng tộc nghiêng về phía người cha hơn là về phía bên họ mẹ. Họ cho rằng: Người cha là trụ cột trong gia đình có công trong lao động sản xuất, giao tiếp mua bán trao đối hàng hóa, sản vật, chiến đấu chống kẻ ác để bảo vệ làng. Nhưng không hiếm những trường hợp vì nể nang, người ta vẫn căn cứ họ về bên vợ. Tuy nhiên, không vì những lý do này mà người phụ nữ Ba Na không được coi trọng Trái lại, mọi công việc trong gia đình đều do người phụ nữ quyết định. Người già được mọi người kính trọng, học hỏi những kinh nghiệm về canh tác, ứng xử trong gia đình, xã hội, chủ trì công việc cúng lễ. Trẻ em được thương yêu chiều chuộng ít khi bị người lớn đánh mắng, không phân biệt đối xử với các con riêng của vợ hoặc chồng, con của vợ cả vợ hai, đã là con đều có sự bình đẳng; nghĩa vụ và quyền lợi ngang nhau, cha mẹ rất tôn trọng ý kiến của các con trong việc lựa chọn hôn nhân cho mình, nghiêm cấm kết hôn những người cùng có chung dòng máu trực hệ có huyết thống cùng chung một cụ tổ, coi đó là một điều kiêng kỵ không được vi phạm.

Trong văn học và trong huyền thoại của người Ba Na rất gần gũi và giống với người Việt như: Truyện ông Trống bà Trống người sinh ra các dân tộc cùng và anh em, tương tự với Lạc tong Quân và Âu Cơ của người Việt; truyện Thần lửa (Giang Sai) hay (Giang Đác) cháu của Thần sấm sét nói về con cóc có thân hình xù xì xấu xí, gần với tích con cóc phổ biến ở vùng đồng bằng Bắc Bộ của người Việt; truyện ''Thần cây đa ma cây gạo'' người Ba Na quan niệm cho hai loại cây này là vật linh thiêng biểu tượng cho sự trường tồn, có sức sống mạnh mẽ của con người, cây đa và cây si được người Ba Na thờ cúng, coi như một thứ cây bản mệnh.

Từ giữa thế kỷ thứ XIX, đạo Ki tô bắt đầu truyền vào vùng cư dân người Ba Na, đến năm 1930 đã có tới 25.000 người theo đạo Ki tô, mặc dù vậy, đạo Ki tô cũng không thể lấn lướt các tôn giảo và tín ngưỡng khác của địa phương bản địa. Ngược lại, các phong tục, tín ngưỡng cổ truyền họ đã địa phương hóa, không bị mai một mất đi mà còn phát huy được bản sắc dân tộc.

Người Ba Na có truyền thống đấu tranh cách mạng ngoan cường và anh dũng, có tinh thần yêu nước nồng nàn chống kẻ thù xâm lược. Vào cuối thế kỷ thứ XVIII, trong hàng ngũ quân đội của ba anh em nhà Tây Sơn có nhiều tướng sĩ người Ba Na đi theo Nguyễn Huệ kéo quân ra Bắc đánh tan hơn 30 vạn quân Thanh xâm lược, trọng điểm là chiến thắng Đồn Ngọc Hồi, Đống Đa vào ngày mồng 5 Tết Kỷ Dậu (1789) giải phóng kinh thành Thăng Long, quét sạch quân Thanh ra khỏi đất nước ta. Trong suốt hơn 80 năm bị thực dân Pháp đô hộ, người Ba Nải đã bền bỉ đấu tranh chống đàn áp bóc lột. Trong 9 năm không chiến chống Pháp có anh hùng Núp chỉ huy dân làng ''Kông hoa'' đánh Pháp tiêu biểu cho tinh thần Tây Nguyên bất khuất. Trong kháng chiến chống Mỹ xâm lược, người Ba Na đã một lòng đi theo Đảng, nghe theo lời Bác Hồ vững tin ở cách mạng, dũng cảm kiên cường đấu tranh với kẻ địch, không sợ gian khổ hi sinh, đã có nhiều cán bộ, chiến sĩ - những người con ưu tú tiêu biểu cho dân tộc Ba Na đã chiến đấu hi sinh để bảo vệ quê hương. Người Ba Na thường nói: ''Người Ba Na không thể sống một ngày mà không có Đảng, không có cách mạng, nếu thiếu Đảng, thiếu cách mạng thì không thể lấy gì thay thế được, nếu thiếu cơm thiếu muối, thì người Ba Na vào rừng, lên rẫy đào củ sắn củ khoai thay cơm, đến cỏ gianh làm muối, người Ba Na đã quyết đi theo Đảng còn sắc mạnh hơn dao chém đá''.

Dù cho kẻ địch và các thế lực phản động ở trong nước và nước ngoài ngày đêm tuyên truyền xuyên tạc chống phá cách mạng nước ta, phá hoại mối đại đoàn kết dần tộc, kích động bọn người xấu để gây rối trật tự an toàn xã hội, trong cộng đồng người Ba Na, cho dù chúng có âm mưu thủ đoạn, trăm Phương nghìn kế xảo quyệt đến đâu, chúng cũng nhất định thất bại. Vì người Ba Na đã chọn con đường đi theo Đảng, đi theo Bác Hồ, cho họ một con đường sáng thoát khỏi cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu, có cuộc sống ấm no hạnh phúc.


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 13:37 21/02/2011
Số lượt xem: 660
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến