DÂN TỘC BRU - VÂN KIỀU
|
DÂN TỘC BRU - VÂN KIỀU Gốc lâu đời nhất ở Trường Sơn nước ta, tập trung chủ yếu ở một số huyện miền núi thuộc các tỉnh Quảng Bình và Quảng Trị, có các tên gọi khác như: Vân Kiều, Tri, Khùa, Ma Coong, còn tên tự gọi là Bru. Dân số khoảng 40.534 người, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me thuộc ngữ hệ Nam Á gần gũi với tiếng Tà Ôi, Cờ Tu, chữ viết mới được hình thành, theo cách phiên âm bằng chữ cái La tinh, giữa các nhóm có một số từ vựng không giống nhau, nhưng có một đặc điểm chung là trong cấu trúc từ vựng về âm tiết, riêng có nhóm Khùa biến đổi và phát triển nhanh về một đơn vị từ vựng song tiết trở thành âm tiết. Người Bru - Vân Kiều sinh sống chủ yếu bằng canh tác ruộng, rẫy, với một số công cụ lao động còn thơ sơ như con dao phát rẫy, cái rìu, chiếc gậy chọc lỗ để gieo hạt, cái bàn nạo cỏ có lưỡi uốn cong với phương thức sản xuất phát rẫy, chọc lỗ gieo hạt giống, làm cỏ, tuốt lúa bằng tay. Người Bru – Vân Kiều thường tìm đất canh tác ở nơi có rừng già, có nhiều cây cối xanh tươi ít gió táp, bảo đảm cho việc sản xuất đa canh, có khi xen canh, tùy thuộc vào từng loại ruộng rẫy. Mùa làm rẫy được kéo dài từ tháng ba cho đến tháng mười hàng năm. Lương thực chính là gạo tẻ, song cũng có cả gạo nếp nhưng ít hơn, ngoài ra còn trồng thêm sắn, ngô, khoai, bí, bầu, chuối, cà dưa, mía, các loại rau. Nghề thủ công chậm phát triển, chỉ có đan các loại chiếu lá, gùi, mâm. Rừng và sông suối là nơi cung cấp nhiều thức ăn và nguồn lợi khác. Chăn nuôi trâu, bò, lợn gà, chó rất phổ biến ở người Bru - Vân Kiều. Trước đây, có một số người chuyên về nghề săn bắn các loài thú rùng, đến nay thì đã bỏ hẳn. Vì sự nghiệp bảo vệ cảnh quan môi trường, cần phải bảo tồn một số loài động vật quý hiếm, khỏi bị diệt chủng nên nghề săn bắn không tồn tại nữa. Ngoài những khu vực định cư lâu đời men theo dọc quốc lộ 9, còn phần đông họ sống trong các làng biệt lập trên những quả dồi, hoặc ở lưng chừng núi. Các nhà trong làng thường được xếp đặt theo chiều dài của các khúc sông, hoặc con suối có nơi làng được bố trí theo hình bầu dục, hoặc hình tròn, trung tâm 1à nơi công cộng (ròng hoặc khoan). Việc bố cục tổng thể kiến trúc các nhà trong làng cũng theo một trật tự nhất định sao cho cây dòn tay đặt nóc của nhà bên này không được hướng đâm vào nhà bên cạnh. Nhà ở được thiết kế theo kiểu nhà sàn có hai mái lợp bằng lá cây mây hoặc bằng lá cây cọ. Riêng nhóm Vân Kiều thông thường nhà làm theo kiểu mái tròn. Một đặc điểm nổi bật là nhà của người Vân Kiều có đầu rộng đến đâu cũng chỉ có hai cửa ra vào chính, một cửa dành riêng cho đàn ông, một cửa dành cho đàn bà. Tập quán cổ truyền xưa kia của người Bru - Vân Kiều dù đàn ông hay đàn bà, đều búi tóc, chỉ quy định riêng cho con gái trẻ chưa chồng thì búi tóc bên trái, khi có chồng được qui định búi trên đỉnh đầu. Về sau, phụ nữ thuộc nhóm Vân Kiều thường hay đội khăn vuông trắng, hai đầu khăn thít lại, đã vểnh lên như hai cái - tai (nhóm Khua). Người Bru ở nước ta không biết trồng bông dệt vải, ngày xưa họ hay lấy vỏ cây xui có tên là a nưng về làm khố, áo để mặc, về sau do giao lưu với người Việt, người Bru và người Lào đã cải tiến từng bước về trang phục, trong cách ăn mặc của họ đã có sự tiến bộ nhiều. Tập quán cổ truyền của tất cả các nhóm Bru - Vân Kiều là nhuộm răng đen, riêng có nhóm Khua còn có tục nhuộm môi vào ngày lễ, ngày hội. Nhóm Vân Kiều lại có tụcc cưa răng, xăm mặt cho cả nam lẫn nữ khi đến tuổi trưởng thành. Xã hội của người Bru - Vân Kiều từ lâu đã có sự phân hóa giầu nghèo rất rõ rệt. Lớp người giầu thường là những người có chức sắc như: Tộc trưởng (Xuốt), chủ đất (xuốt cute hoặc n'la cute), Những người này vừa có thế lực, lại nắm quyền hành trong tay, am hiểu phong tục ở một số vùng. Tộc trưởng thường là chủ đất kiêm chức người đứng đầu một làng. Các chức sắc này theo chế độ cha truyền con nối, hoặc anh chết thì người em thay. Đại bộ phận người lao động phải đi làm thuê làm mướn, túng thiếu và nghèo khổ. Những người này bị bóc lột nhân công, bóc lột sức lao động một cách thậm tệ, như: Phải đến ở làm không công để trừ nợ cho bọn nhà giầu dưới thời thuộc Pháp thống trị, chúng đã cướp đi nhiều vùng đất đai màu mỡ của người Bru - Vân Kiều để lập các đồn điền, trồng cây cao su, hoặc cà phê, không còn đất để canh tác trồng trọt, buộc họ phải phục dịch, vào làm với đồng lương rẻ mạt. Trong xã hội Bru - Vân Kiều càng (Vil) là một tổ chức khá vững chắc. Mối quan hệ xóm giềng ngày càng trở nên gắn bó sâu đậm, theo kiểu câu nói của người Việt ''Bán anh em xa mua xóm giềng gần'' vì thế mà quan hệ huyết thống được coi là mờ nhạt. Mỗi một làng có thể có một hay nhiều dòng họ (mu hoặc dạ) cư trú. Gia đình Bru - Vân Kiều 1à gia đình phụ quyền, người đàn ông nào cao tuổi, già nhất trong gia đình thì được coi là làm chủ gia đình. Khi người chủ gia đình chết, mọi quyền hành và tài sản được giao cho người con trai cả. Các con gái không được phân chia tài sản, trường hợp rất ít nếu có được chia thì được phân nhỏ, ít hơn với người con trai. Xét về nhiều lĩnh vực xã hội, trong quan hệ gia đình thì những tàn dư của chế độ nẫu hệ, cho thấy còn sót lại rất rõ nét trong cộng đồng người Bru - Vân Kiều. Trong chế độ hôn nhân thực hiện một vợ một chồng. Khi người phụ nữ lấy chồng thì về ở hẳn bên nhà chồng, song nó còn phần nào mang tính chất mua bán hơn là hôn nhân tự nguyện. Người phụ nữ được xem như một thứ hàng hóa đặc biệt của gia dình, của họ hàng để đem trao cho chú rể, vì trưa ngày cưới bên nhà gái đã nhận đủ đồ sính lễ, bằng tiền bằng của cải có giá trị rất lớn của bên nhà trai, chính vì lẽ đó mà người con gái đã trở thành “tài sản'' thừa kế của những người đàn ông trong gia đình nhà chồng gồm có: Bố chồng, các anh em trai của chồng, hoặc là người con trai riêng của chồng. Trong trường hợp người con gái đã đi lấy chống, không may mà lại chết trước khi có con, thì chị hoặc em gái chưa có chồng của người đó phải đi làm vợ thay cho người con gái đã chết, nếu không có con gái, thì thân nhân cha mẹ anh em họ phải đền bù bằng tiền hoặc tài sản theo yêu cầu của gia dình bên nhà chồng. Tập tục kiêng cữ của người Bru - Vân Kiều rất phức tạp về nhiều quan niệm hết sức nặng nề, tránh những vật đụng chạm đến thần, đặc biệt là các việc liên quan đến việc chết chóc tang ma, đặt ra nhiều tục kiêng kỵ như: Người khi ngủ không được nằm ngang nhà, không được mắc màn ở trong nhà, lúc trời, bắt đầu tối ai đi ra khỏi nhà hoặc từ ngoài ngõ vào nhà, không được đất đuốc, đốt đèn để có ánh phát ra từ ngọn lửa. Đến nay trong đời sống văn hóa tinh thần của người Bru Vân Kiều đã có nhiều thay đổi về nhận thức, từng bước xóa bỏ nghèo nàn lạc hậu, nâng cao về trình dộ dân chí trong việc cưới xin, ma chay cúng bái. Đã có nhiều trường hợp phổ thông trường bổ túc văn hóa, có trạm y tế, có chương trình dùng nước sạch, tiến tới xóa dòi giảm nghèo, có cửa hàng dịch vụ mua bán dụng cụ gia dình, nhu yếu phẩm cần thiết có nhiều cán bộ là người Bru - Vân Kiều. Người Bru - Vân Kiều vốn có nền văn hóa, văn nghệ dân gian rất phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc. Rất nhiều loại nhạc cụ cồng, chiêng, đàn (ác hung Plưa), đàn Ta lư, kê Amam taral, kèn pi, nhị, đàn môi, trống sáo, có nhiều truyện cổ truyền miệng kể về sự tích loài người, sự tích các dòng họ về nguồn gốc tổ tiên, nguồn gốc dân tộc và nhiều truyện tình 1ãng mạn đặc sắc, các chuyện về mảng đề tài anh em mồ côi họ kể cho nhau nghe vào bất cứ lúc nào, kể cả khi rảnh rỗi, lúc lao động trên rẫy, hoặc về nhà nghỉ ngơi, cả khi vui ngồi bên bếp lửa hồng. Khi người chết thì đặt nằm ngang ở sàn nhà, chân hướng về phía cửa sổ (tục ma chay này phổ biến chỉ ở nhóm Vân Kiều), còn các nhóm Khua và nhóm Ma coóng thì người chết được đặt dọc sàn nhà, chân hướng về cửa chính sau từ hai đến ba ngày mới đưa ma. Chôn người chết ở bãi mộ của làng, quan tài bằng gỗ đẽo độc mộc như chiếc hòm và có nắp đậy. Tục cổ truyền xa xưa, người chết cho vào trong vỏ cây, hoặc tấm đan bằng giang nứa đem chôn, đến nay tục này không còn nữa. Người Bru - Vân Kiều rất chú trọng đến việc thờ cúng tổ tiên, ngoài ra còn thờ cúng bàn thờ tạo nhà các thần linh (Y ang) như Thần Lúa, Thần Bếp, Thần Núi, Thần Đất, Thần Sông Nước. Với người Bru - Vân kiều, thờ họ hàng bên gia đình nhà vợ cũng là nghĩa vụ và bổn phận của người con rể. Người Bru - Vân Kiều sớm có ý thức dân tộc chống đế quốc và phong kiến, họ đã công khai ủng hộ phong trào Cần Vương và vua Hàm Nghi chống Pháp xâm lược. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đã đóng góp sức người sức của cho kháng chiến, cho cách mạng góp phần lập nên kỳ tích đường 9 - Khe Sanh vang dội - những chiến công đã được ghi vào trang sử vàng chói Lọi. Người Bru - Vân Kiều cư trú ở trên các khu vực khác nhau, song họ vẫn giữ được tính thống nhất về ngôn ngữ, phát huy tính sáng tạo cần cù, kiên trì nhẫn nại, bền bỉ trong đấu tranh cách mạng, xây dựng quê hương làm cho miền núi tiến kịp miền xuôi. |
Nguyễn Hải @ 13:39 21/02/2011
Số lượt xem: 979
- DÂN TỘC XTIÊNG (21/02/11)
- DÂN TỘC MNÔNG (21/02/11)
- DÂN TỘC HRÊ (21/02/11)
- DÂN TỘC BA NA (21/02/11)
- DÂN TỘC CƠ HO (21/02/11)
Các ý kiến mới nhất