DÂN TỘC XTIÊNG
|
DÂN TỘC XTIÊNG Người Xtiêng là một trong số các cư dân cư trú ở nước ta rất lâu đời, họ đã sớm quần tụ ở vùng biên giới Tây Nam, chủ yếu ở các tỉnh: Phước Long, Đồng Nai và Tây Ninh. Địa bàn cư trú của người Xtiêng giáp với người Mnông ở phía Bắc, người Mạ ở phía Đông, người Việt ở phía Nam và người Khơ Me ở phía Tây. Người Xtiêng gồm có một số nhóm địa phương như: Bù Lơ, Bù Đek, Bù Biêk, ngoài ra. còn có tên gọi khác là Xa Điêng hay Xa Chiêng. Tên tự gọi là Xtiêng, với dân số khoảng 50.534 người, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me thuộc ngữ hệ Nam Á. Người Xtiêng sinh sống từng làng nhỏ, mỗi làng có tự 10-15 gia đình, vị trí mỗi làng cách nhau khá xa. Để đề phòng nạn cướp bóc, trộm cắp, giặc dã, mỗi làng đều có hàng rào bảo vệ kiên cố. Người Xtiêng ở nhà sàn dài, cá biệt cũng có một số ít làng chỉ ở trong một nhà sàn dài. Vật liệu chính để làm nhà chủ yếu bằng tre, cũng có nơi làm bằng gỗ, xung quanh nhà được che chắn bằng những tấm liếp đan, rộng ở dưới phần tiếp giáp với nền nhà, nhỏ ở phần giáp với phía mái nhà theo kiểu hạ thu thương khách. Mái nhà lợp bằng cỏ hoặc lá. Còn ngôi nhà truyền thống xa xưa là nhà bốn mái lợp tranh, mái tròn ở hai đầu hồi thấp, sát xuống giáp đất có mở cửa ra vào hình chữ nhật, chính giữa hai đầu hồi. Nhà kiểu này hiện nay không phổ biến, chỉ còn sót lại một ngôi nhà cổ dài truyền thống thuộc nhóm Bulô tỉnh Phước Long. Bên trong ngôi nhà cũng được bố trí ra làm hai phần theo chiều dọc, phần để ngủ (vang bik) cách mặt đất khoảng nửa mét, là phần chính của ngôi nhà, thường gọi là ''nhà thóc'' (Vang hay), phía dưới sàn của ngôi nhà là sạp nhỏ, thường để dùng tiến hành các nghi lễ tôn giáo đồng thời còn là nơi ngủ của khách nam giới ở lại qua đêm. Nhà nào cũng làm hiên vào cửa để hóng gió, gọi là sân chơi (dông gung) là nơi dùng để vui chơi giải trí và uống rượu trong dịp họp mặt bạn bè, người thân, cũng là nơi giao lưu trao đổi kinh nghiệm làm ăn vào những quan hệ xã hội khác. Trang phục của người Xtiêng cũng rất đơn giản. Đàn ông thường đóng khố, cởi trần, đàn bà mặc váy hoặc áo, cũng có khi cởi trần. Đặc biệt là vào mùa đông, đàn ông cũng như đàn bà chỉ choàng vào người một tấm vải để chống rét. Người Xtiêng để tóc dài, búi tó phía sau gáy, sâu lỗ tai, đeo hoa tai bằng gỗ, hoặc bằng ngà voi, có tập quán xăm mặt, xăm mình với các đường nét hoa văn hình học đơn giản. Không phân biệt nam, nữ, già, trẻ, người nào cũng ưa thích đeo các loại vòng dài tới vú, có nhiều lớp. Trẻ em dưới bốn tuổi thì đeo lục là ở hai chân. Tục cưa răng từ thời xa xưa đã đi vào quá khứ, ngày nay không mấy ai, nhất là lớp ngươi trẻ tuổi còn giữ tục này. Lương thực chính trong các bữa ăn hàng ngày của người Xtiêng là gạo tẻ, gạo nếp sử dụng ít hơn. Thức ăn gồm có cá, loại rau xanh, bầu, bí, tôm, cua, cá, thịt và những thứ săn bắn hái lượm trong rừng, ven sông suối. Từ lâu, người Xtiêng đã bỏ được tục ăn bốc. Ngày nay, trong các bữa ăn ở nhà dã dùng bát đũa. Khi cần mua bán các thứ nhu yếu phẩm, đã có chợ hoặc là thương lái đến trao đổi hàng hóa, dịch vụ. Đồ uống truyền thống là nước lã, rượu cần, song rượu cần chỉ được dùng vào dịp lễ tết, hội hè cưới hỏi, tiệc vui. Làng là đơn vị xã hội cao nhất của người Xtiêng, nó có vị trí và tầm quan trọng phát huy sức mạnh nội lực của tính cộng đồng. Giữa các gia đình có những quan hệ với nhau về dòng máu trực hệ, về quan hệ kinh tế, mỗi một làng có người thủ lĩnh đứng đầu để điều hành. Những người này do các chủ gia đình lựa chọn bầu ra, có đủ uy tín và năng lực. Dưới thủ lĩnh có hội đồng già làng bao gồm thành phần các chủ gia đình quyền lực, thường quyết định những công việc hệ trọng, liên quan đến đời sống tinh thần, tính mạng, tài sản của cả làng, như việc xảy ra xung đột giữa cá thể hoặc cả tập thể làng này với làng khác, thiên tai dịch bệnh, đói kém mất mùa, thì số phận của làng sẽ do Hội đồng làng quyết định. Còn việc có chuyển làng đi nơi khác hay không, quyết định chiến tranh xung đột với làng khác, để bảo vệ làng mình, hay là hòa giải thương lượng để giữ hòa bình giữa hai làng với nhau, thông thường thì giải quyết bằng tình thân ái. Trước năm 1945 thì thường xuyên có những cuộc đánh nhau, xung đột, tranh chấp địa giới đất đai, canh tác. Làng của người Xiêng cũng có nhiều tục lệ kiêng kỵ, người ngoài làng không được đến trong thời gian bảy ngày, sau khi vừa dựng làng mới, cũng trong thời gian này không được đem vào làng các thứ như: Thóc, cối, chày, sàng gạo, ché rượu v.v. . . các gia đình không được đun nấu ở trong nhà, cả làng không ai được ăn rau, ăn thịt lợn, thịt gà. Trong những ngày dựng cột đâm trâu mừng làng mới, tất cả đàn ông phải ra rừng ngủ qua đêm, làm dấu hiệu lấy thừng cuốn vài chiếc lá treo ở cổng làng, để cấm không cho bất cứ ai được vi phạm vào những điều kiện kiêng kỵ. Mỗi gia đình khi có cúng bái hoặc sinh đẻ cũng kiêng khách lạ trong ba ngày chưa được đến chơi thăm hỏi. Dấu hiệu cấm không được vào nhà là một chiếc sào có cắm vài chiếc lá, nếu có ai không may mà phạm phải những ddiều cấm kỵ nói trên đều phải nộp phạt cho làng hay cho gia đình, chủ yếu bằng kinh tế, tiền hay lương thực thực phẩm, gia súc, gia cầm. Tập tục này được chấp hành rất nghiêm và triệt để, không chỉ người mắc lỗi chịu trách nhiệm, ngay cả gia đình họ cũng có trách nhiệm, trừ trường hợp mắc lỗi lần thứ hai, người mắc lỗi đó có thể dùng hình thức bằng kinh tế nộp phạt, nhưng phải thực hiện một nghi lễ có tên gọi là Pan kliar (tương tự như xử phạt lỗi vi phạm hành chính hiện nay). Trong xã hội của người Xtiêng, gia đình nhỏ gồm có hai vợ chồng và các con của họ, là hình thức tổ chức gia đình rất phổ biến. Đàn ông giữ vai trò làm chủ trong gia đình. Quyền thừa kế tài sản thuộc về người con trai cả, cũng có khi tài sản mẹ để truyền lại cho người con út, nhưng cũng có trường hợp người con út lại là con gái, được hưởng quyền thừa kế tài sản thì chồng của người con gái ấy phải đến nhà vợ ở, coi như anh ta đã ở rể suốt đời. Những người trong một nhóm họ ngoại (dau) không được có quan hệ hôn nhân với nhau, vi phạm tập tục này đều bị phạt rất nặng về kinh tế, coi đó như một tội loạn luân (đoang ih). Kể từ năm 1975, khi đất nước được thống nhất, miền Nam hoàn toàn giải phóng thì quan niệm về tập tục kiềng kỵ đã tiến bộ rất nhiều, như việc cho phép những thành viên cùng một dau từ đời thứ năm trở đi được kết hôn với nhau, nhưng phải qua một thủ tục làm lễ Pày Srê để giải tội (đoăng ih). Ngoài ra trong mối quan hệ, người Xtiêng vẫn tồn tại hình thức hôn nhân con cô con cậu, hôn nhân anh em chồng và quan hệ hôn nhân với các chị em của vợ, khi chồng hoặc vợ đã chết. Theo tập quán truyền thống, khi chết xác cho vào quan tư gỗ độc mộc, được đẽo từ thân cây rừng đem chôn ở bãi mộ (nghĩa trang) của làng, bên trong quan tài đổ một ít gạo và thuốc lá, những dụng cụ, đồ vật cũng “chia'' cho người chết như, Ché nồi đều để ở trên mộ. Người Xtiêng không có tục thăm viếng mồ mả, khi có người chết cả làng không đánh cồng chiêng trong mười ngày, không vui chơi ca hát để tỏ lòng tiếc thương đối với người đã chết. Người Xtiêng là cư dân nông nghiệp, đời sống chủ yếu dựa vào lúa gạo ruộng rẫy cung cấp. Riêng có nhóm Bù Lô ở trên cao hoàn toàn làm rẫy, nhóm Bù Đek (Bù dêh) ở vùng thấp cấy ruộng nước và công cụ sản xuất vẫn còn hết sức thô sơ, gồm có rìu và dao (xà gạc) để khai phá, mở rộng diện tích canh tác, trồng trọt. Sau khi đến nương dùng bàn cào tre có năm răng để thu dọn, khi tra hạt dùng hai tay cầm hai gậy nhọn chọc lỗ xong gieo hạt lúa cho nẩy mầm. Nhưng khoảng đầu thế kỷ XX, nhờ giao lưu học hỏi kỹ thuật canh tác gieo trồng từ khâu mạ cấy đến tưới nước, làm cỏ, bỏ phân, đến khi thu hoạch, gặt hái, người Xtiêng đã áp dụng gần giống với cách thức của người Việt trong sản xuất nông nghiệp. Phương tiện vận chuyển rất cơ động, có tính chất truyền thống, vẫn bằng các loại gùi, có nơi đứng xe gỗ hai bánh có hai con bò kéo, phương tiện này hiện nay dùng khá phổ biến trong cộng đồng người Xtiêng. Người Xtiêng cũng có nhiều ngày 1ễ trong một năm, song lễ đâm trâu vẫn được coi là lễ lớn nhất thường được tổ chức những khi được mùa (gia đình phải thu hoạch lúa từ 100 gùi cỡ to trở nên), gùi có tên (sah cách), lễ mừng chiến thắng kẻ thù, mừng được mùa bội thu, mừng làm ăn phát đạt, mừng con cái đã lớn khôn, trưởng thành. Ngoài hiến sinh trâu, còn có cả bò, lợn, gà. Người Xtiêng là một dân tộc rất yêu ca hát và âm nhạc, nổi tiếng là các bộ cồng, chiêng, chiêng 6 chiếc cồng thì 5 chiếc, có nhiều kho tàng thơ và truyện cổ dân gian, kể về lịch sử hình thành dân tộc Xtiêng và các dân tộc anh em khác, cùng nhau đoàn kết chống thiên tai, thú dữ, chống giặc dã. Nhiều điệu khèn, bài hát dân ca còn lưu truyền ở các địa phương và các nhóm người Xtiêng. Người Xiêng có tinh thần thượng võ, có tính tự chủ, độc lập từ lâu đã có lịch sử đấu tranh rất kiên cường, dũng cảm với bọn thực dân Pháp, quyết không thương lượng lùi bước. Ngay từ năm 1862, người Xtiêng đã đoàn kết cùng người Việt, người Chơro và người Khơ Me tổ chức phong trào nổi dậy chống pháp. Vì quá uất ức nên người Xtiêng đã đồng loạt vùng lên giết chết tên quan Pháp More. Trong suốt hai cuộc kháng chiến chóng xâm lược Pháp và Mỹ, người Xtiêng đã đóng góp nhiều công sức cho cách mạng, luôn là hậu phương đáng tin cậy cho cuộc kháng chiến đặc biệt là góp phần giúp đỡ, tạo điều kiện cho quân giải phóng tiến vào giải phóng hai tỉnh Phước Long và Bình Long làm nên chiến thắng lịch sử của mùa xuân năm 1975, do người Xtiêng rất tự hào về quê hương mình, cũng như ngày xưa trong kháng chiến, người Xtiêng rất tin yêu Đảng, tin yêu Bác Hồ. Cho đến ngày nay, trong cuộc sống hòa bình, tiến tới ấm no hạnh phúc, trong sự nghiệp xây dựng quê hương bảo vệ Tổ quốc, người Xtiêng vẫn một lòng đi theo Đảng, theo cách mạng. |
Nguyễn Hải @ 13:38 21/02/2011
Số lượt xem: 674
- DÂN TỘC MNÔNG (21/02/11)
- DÂN TỘC HRÊ (21/02/11)
- DÂN TỘC BA NA (21/02/11)
- DÂN TỘC CƠ HO (21/02/11)
- DÂN TỘC XƠ ĐĂNG (21/02/11)
Các ý kiến mới nhất