Gốc > Đất nước Việt Nam > Nếp sống văn hóa Việt > Văn hóa các Dân tộc Việt Nam >

DÂN TỘC GIÉ - TRIÊNG

DÂN TỘC GIÉ - TRIÊNG

Người Gié - Triêng là cư dân sinh sống lâu đời ở nước ta, tập trung cư trú chủ yếu ở huyện Đắc Glây tỉnh Kon Tum. Địa bàn cư trú của người Gié - Triêng về phía đông là Pô Cô, phía nam là huyện Đắc Tô, phía tây giáp nước Cộng hòa Nhân dân Lào, dọc đòng sông Pô Cô và Sê cà máng, tạo thành một hợp điểm giao nhau giữa hai nước Việt - Lào, cũng là nơi hội tụ sinh sống của người Gié - Triêng, người Cơ Tu (ở phía bắc), người Xơ Đăng ở phía đông, với dân số khoảng 27.326 người, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me ngữ hệ Nam Á.

Người Gié - Triêng sống bằng nghề trồng trọt, làm nương rẫy, họ trồng cây lương thực chính là lúa, ngô, khoai, sắn và các loại cây ăn củ, bầu, bí, dưa, thuốc lá, mía, chuối; dụng cụ sản xuất chủ yếu dùng rìu, dao để chặt phá cây, gậy chọc lỗ để gieo hạt.

Thời xưa, người Gié - Triêng không có thói quen trồng các loại rau xanh để ăn hàng ngày, mà chỉ dựa vào thu hái lượm trên nương rẫy và ở trong rừng, cho nên việc làm nương, hái lượm rất thành thạo và phong phu. Các loại rau, măng, nấm, sâm, chuối rừng, mật ong là những đặc sản, nguồn sinh lợi vô trị giá do núi rừng đem lại, góp phần vào việc cải thiện các bữa ăn. Do tập quán, họ chỉ chú trọng đến khâu khai thác tự nhiên, chưa biết cách tổ chức nuôi trồng gây giống để sản xuất có sản lượng cao, chất lượng tốt, có giá trị về mặt kinh tế, nâng cao cuộc sống. Hơn nữa, chăn nuôi không phải là mục đích chính, các loại gia súc chủ yếu là trâu chỉ làm vật hiến sinh trong các nghi lễ tôn giáo.

Nghề thủ công truyền thống của người Gié - Triêng có đan tre, đan võng, dệt vải khổ hẹp trước đây có phát triển mạnh, vùng huyện Đắc Glây, nghề đào đãi vàng cũng khá phát triển thu hút số đông lao động tham gia ở khu Đắc Pét. Vàng đã được hầu hết đem dùng để trao đổi hàng hóa với thương lái người Lào và cả người miền xuôi, trong đó cả sản phẩm qúi Phước Sơn nổi tiếng, đã trở nên nhộn nhịp, hàng đổi lấy hàng và nhu yếu phẩm cần dùng trong sinh hoạt. Đặc biệt, ở đó Pét có nghề sản xuất gốm không sử dụng đến bàn xoay, hoàn toàn làm bằng thủ công nhờ sự khéo léo ở đôi tay, dây cũi là nét nổi bật của người Gié – Triêng.

Tập quán cổ truyền của người Gié - Triêng là sống du canh du cư, nên làng của người Gié - Triêng thường nhỏ bé, chỉ từ 10 đến 15 nóc nhà. Trong chiến tranh thời chống Mỹ, làng của người Gié - Triêng không còn nguyên vẹn như cũ, do  trong vùng có chiến sự diễn ra ác liệt, nên bị xé lẻ tưng nhóm nhỏ ở rải rác trong rừng sâu.

Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước, họ trở về quê cũ lập làng mới, họ dựng nhà xếp thành vòng tròn bao quanh nhà công cộng, kiến trúc nhà ở theo hình thù nhà sàn dài có nhiều bếp. Mỗi làng có từ 2 đến 3 nhà lớn gọi 1à khul, mỗi nhà lớn lại ngăn ra từng ngăn cho gia đình nhỏ (mul). Nhà ở của người Gié - Triêng có nhà nền đất và nhà sàn nhà nền đất chiếm tỉ lệ cao ở gần vùng người Xơ Đăng.

Đơn vị xã hội nhỏ nhất của người Gié - Triêng là plây (làng). Plây được chia ra những khu (nhà lớn). Đứng đầu làng là người krạ plây hay krạ bút do người làng lựa chọn mà bầu ra. Trong xã hội người Gié - Triêng đã xuất hiện chế độ tư hữu ruộng đất, người chủ nương rẫy, chủ ruộng đất dược quyền quyết định việc chuyển nhượng hoặc bán thửa đất của mình cho người khác, mà không cần hỏi ý kiến và được sự đồng của bất cứ ai. Nếu ở làng có sự tranh chấp, lấn chiếm đất đai thì người đứng đầu làng sẽ dàn xếp hòa giải, thương lượngn người phán quyết cuối cùng đúng hay sai, thắng hay bại, ai sẽ là người thắng, kẻ thua. Sau khi đã tham khảo lấy ý kiến của nhiều người, đầu làng sẽ tuyên bố và quyết định là ý kiến cuối cùng, mọi người có nghĩa vụ tuân thủ chấp hành, bên thua phải bồi thường thiệt hại bằng hiện vật, tùy ở mức độ do lỗi nặng hay nhẹ gây ra, thông thường hiện vật 1à trâu, lợn, chiêng, ché v.v. . .

Trong làng có nhiều dòng họ khác nhau sinh sống. Số thành viên (hộ khẩu) trong làng không cố định, mà phụ thuộc vào sự di chuyển đi hoặc đến của những gia đình nhỏ như vợ chồng mới kết hôn theo tập quán phải dọn về ở nhà bố mẹ vợ từ 3 đến 4 năm, sau đó lại trở về nhà ở với bố mẹ chồng một thời gian cũng tương đương như vậy, cứ diễn ra thường xuyên liên tục. Của cải vật chất do hai vợ chồng tạo dựng, làm ra ở bên nào thì để lại cho bố mẹ ở bên đó. Việc cư trú luân phiên kéo dài cho đến khi bố mẹ của một trong hai bên qua đời, thì vợ chồng họ mới được quyền định cư ở hẳn một nơi cố định.

Về chế độ gia đình của người Gié - Triêng mang tính chất song hệ, họ cũng hoàn toàn dựa trên cơ sở bình đẳng giữa nam và nữ, vì ở đây luôn có sự biến động. Có những đôi vợ chồng không ở một nơi nhất định, cho nên ngôi nhà dài không còn mang ý nghĩa ban đầu là một đơn vị cư trú cùng đồng nghĩa với một đơn vị huyết thống nữa, đó là đặc điểm nổi bật của xã hội người Gié – Triêng.

Trong đời sống, quan hệ xã hội hàng ngày của người Gié - Triêng có nhiều điều kiêng kỵ, song nhiều nhất vẫn là tín ngưỡng nông nghiệp. Hàng năm cúng trời (pleng), cúng đất (né) dùng trâu làm vật hiến sinh trong lễ cúng làng, lễ đâm trâu cả làng đứng ra tổ chức, thường vào dịp mùa màng, mùa nương rẫy đã thu hoạch xong. Đây cũng được coi như ngày hội của làng. Sau khi làm một số nghi lễ, tiếng cồng chiêng vang lên, cả làng quây quần múa hát, ăn uống vui vẻ, ai nấy đều mừng vui cầu chúc cho mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, năm sau sẽ thu hoạch nhiều năm trước. Trang phục truyền thống: Đàn ông đóng khố cởi trần, trời lạnh thì choàng thêm tấm vải để chống lạnh; phụ nữ mặc áo, quần hoặc váy, cũng có khi là váy ống dài gắn liền áo, che cả phần thân trên ngực, phụ nữ thích đeo nhiều đồ trang sức, các loại vòng bạc, đồng, chuỗi cườm đeo ở cổ, tay, chân, tai, cũng có người dùng trang sức bằng ngà voi.

Phương tiện vận chuyển chủ yếu bằng gùi các loại dài ngắn, to nhỏ, đan dày đan thưa khác nhau, lựa chọn trong khi sẽ đụng vận chuyển cho thích hợp với đường rừng núi, qua suối, qua khe.

Người Gié - Triêng ăn 3 bữa trong một ngày: Sáng, trưa, tối. Món mà người Gié - Triêng ưa thích là nướng, các món cá thịt rau canh cũng thường xuyên có trong bữa ăn. Tập quán xưa ăn bốc, ngày nay hầu hết đã chuyển sang dùng mâm, bát đũa, đồ uống nước lã, rượu cần nấu chế biến nguyên liệu bằng gạo ngô, sắn, kê và một loại rượu chế biến từ thân cây họ dừa, mọc hoang trong rừng, nam nữ họ đều hút thuốc lá bằng tẩu, những thứ này được người Gié - Triêng rất ưa dùng.

Khi người chết, cho xác vào quan tài bằng gỗ dẻo độc mộc cũng là nơi thì tạc tượng hình trâu ở đầu quan tài. Người cho đưa đi mai táng ở nhà mồ thô sơ chứ không cầu kỳ, làm hàng rào bao quanh để bảo vệ, sau đó mang theo đồ vật cho người chết, bao gồm chiêng, ché nhưng đều phải đập cho thủng, họ làm cho vỡ để ở trên nhà mồ.

Người Gié - Triêng có một nền văn hóa dân gian khá đặc sắc và đa dạng; nhiều câu chuyện kể, nhiều bài hát dần ca tả tình giầu chất lãng mạn, sử thi. Người Gié - Triêng có dàn cồng chiêng độc đáo, mỗi một bộ gồm 3 cồng, có từ 7 hoặc 9 chiêng. Ngoài ra còn có các nhạc cụ gồm ống nứa thổi trống để đánh, gõ, vỗ, đàn, sáo, khèn có nhiều sắc thái và hóa riêng. Người Gié - Triêng rất yêu văn nghệ, múa hát và trong các dịp có 1ễ hội.

Người Gié - Triêng từ lâu đã sẵn có tinh thần yêu nước nồng nàn, nêu cao ý chí chống kẻ thù xâm lược, tiêu biểu là Phong trào chống Nhật năm 1945 dưới sự lãnh dạo của hai già làng Giang và Rẫy.


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 13:40 21/02/2011
Số lượt xem: 605
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến