DÂN TỘC CO
DÂN TỘC CO
Quảng Ngãi và huyện Trà Mi phía Tây Nam tỉnh Quảng Nam. Người Co còn có những tên gọi khác là: Cua, Trầu, Bồng Miêu, Col, Cor; tên tự gọi là: Co, Cor; với dân số khoảng 23.048 người, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me ngữ hệ Nam Á).
Địa bàn cư trú của người Co là vùng rừng núi trùng điệp hiểm trở, khí hậu nóng, ẩm lại có lượng mưa nhiều. Ở đây phù hợp với sự sinh trưởng của cây quế, chính vì thế từ lâu ở vùng đất Trà Mi, Trà Bồng đã nổi tiếng trong nước về nghề trồng quế. Quế của vùng người Co có chất lượng và năng suất cao, sánh ngang với quế của các tỉnh phía Bắc, đã được xuất khẩu ra nước ngoài đem lại hiệu quả kinh tế. Người Co biết áp dụng biện pháp ươm hạt lấy cây con, đem tỉa trên rẫy, đến tháng 5 tháng 6 dương lịch hàng năm là mùa thu hoạch lột vỏ quế.
Gia đình nào cũng trồng quế, có ít nhất từ 20 đến 40 cây từ. 15 đến 20 tuổi. Quế lột vỏ xong tất cả để ở ngoài rừng cho khô (người Co có tục kiêng không cho đưa quế vào trong nhà) rồi đem đi đổi lấy gạo, muối, vải, chiêng, chóe. Quế đã đem lạỉ nguồn lợi kinh tế đáng kể cho mỗi gia đình, người Cọ vớl người Co, quế vừa là cây thiêng, vừa là cây đem 1ại lợi ích kinh tế cho con người.
Khi nước nhà thống nhất năm 1975, vùng đất trắng quế của người Co được Nhà nước đặc biệt quan tâm ưu tiên bằng các chính sách cho vay vốn, cấp giống, hướng dẫn kỹ thuật, đạt được hiệu quả, cho năng suất và chất lượng cao, hàng năm thu hoạch hàng nghìn tấn quế khô các loại. Ngoài việc trồng quế người Co còn trồng trầu ở ngoài rừng già, dưới gốc cây to đem về miền xuôi đổi lấy hàng hóa, thực phẩm. Các làng xóm người Việt ven biển Trung Bộ rất thích ăn loại trầu này.
Trang phục của người Co rất giản dị, phụ nữ mặc chiếc váy màu chàm, chùm quá dầu gối xuống bắp chân, áo ngắn tay thắt lưng và cổ tay đeo nhiều dây cườm vòng đồng, vòng bạc và lục lạc; đàn ông đóng khố, cởi trần, khi trời lạnh thì quàng thêm chiếc chăn dầy có kẻ sọc đỏ trên nền màu chàm mà ngưu Xơ Đăng hay dùng có tên gọi là ''dồ''. Vào dịp lễ đâm trâu ngày mừng lúa (ăn cơm mới) hay trong các ngày lễ thần linh thần nước, dịp cưới hỏi ma chay, người Co ăn mặc đẹp, sặc sỡ hơn những ngày thường.
Mặc dầu cây quế và cây trầu chiếm vị trí quan trọng trong đời sống của người Co, nhưng nương rẫy vẫn là nguồn sống chính, có tính chất bền vững lâu dài. Cây lúa được trồng trên nương rẫy theo phương pháp cổ truyền, phát cành chặt cây, đốn trỉa v.v. . .
Phương thức canh tác cũng gần giống các dân tộc ở dọc Trường Sơn - Tây Nguyên. Người Co ăn bữa cơm hàng ngày bằng gạo tẻ, uống rượu cần, hút thuốc rê và ăn trầu. Vào ngày lễ ngày Tết có nhiều món ăn chế biến từ gạo, ngô, khoai, sắn có thêm thịt trâu, thịt lợn, cá và thịt thú rừng.
Làng của người Co thường ở trên lưng chừng núi, hay các dòng sông suối hoặc ở giữa thung lũng (plơ hay nóc). Làng là một ngôi nhà sàn dài từ 50 đến 60 mét, nhưng cũng có khi dài tới 100 mét. Nhà được chia dọc làm hai phần, một nửa chạy dọc suốt từ cầu thang đầu hồi bên này tới cầu thang đầu hồi bên kia gọi là gưl tức là ''nhà làng”, “nhà rông'' hay ''nhà khácg” nó hoàn toàn khác không giống với một số dân tộc ở dọc Trường Sơn - Tây Nguyên. ''Nhà rông'', ''nhà làng'' của người Co gắn liền với nhà ở, phần nửa chia đôi bên này dùng là nơi ngủ của các chàng trai chưa có vợ, của người già, khách đến thăm làng cũng được tiếp tại đây; gưl có bếp lửa bập bùng cháy suốt đêm ngày, có chiêng, cồng, trống và những ché rượu đầy các loại đầu, xương, da, đuôi thú rừng, do trai làng săn bắn, bẫy được cũng trưng bày tại đây, để biểu dương sức khỏe cộng đồng, tài thiện xạ, tinh thần thượng võ của làng. Phần cònlại một nửa bên kia gọi là tum, được chia theo chiều ngang làm nhiều phòng, mỗi phòng có vách ngăn, có bếp lửa, có gian làm kho để lúa, ngô, khoai, sắn và đồ đạc, thực chất là nơi ở của đôi vợ chồng trẻ mới cưới, hoặc có con nhỏ chưa đến tuổi trường thành. Mỗi phòng có một cửa chính thông ra gưl, lại để thêm một cửa sổ trông ra rừng, trông ra nương rẫy và khoảng sân rộng là nơi tổ chức các cuộc lễ đâm trâu, hát múa của làng. Hai bên cầu thang nhà dài là nơi giã gạo của phụ nữ, kế bên là máng nước công cộng, là nơi hẹn hò của trai gái yêu nhau. . .
Đứng đầu một ngôi nhà dài này là một bô lão (cá già) có người gọi là ca rá, thực chất ám chỉ một ông già cao tuổi, có uy tín, giầu kinh nghiệm trong canh tác nương rẫy, biết giao tiếp, biết cúng bái, đứng ra giải quyết mọi công việc của làng, dàn xếp những xích mích bất hòa, mọi người có nghĩa vụ nghe theo.
Cộng đồng người Co có sự gắn kết bền chặt, nam nữ được tự do bình đẳng, lựa chọn người yêu cho mình. Mỗi gia đình nhỏ sống trong làng ''nóc'' có cuộc sống biệt lập làm ăn riêng lẻ nhưng hễ có gia đình không ăn nên làm ra, túng bấn, thì cả làng đều giúp đỡ mỗi người một tay, cho cái ăn cái mặc, cho cơm giống để trồng. Người Co sống trong tinh thần tương thân tương ái, có cuộc sống rất hòa thuận, vui vẻ và bình yên.
Phương tiện vận chuyển của người Co cũng giống như một số dân tộc anh em khác, vận chuyển chủ yếu bằng gùi, đa dạng nhiều chủng loại to nhỏ dài ngắn khác nhau, rất thuận lợi với địa bàn rừng núi nhiều khe suối, đường dốc quanh co. Gùi chủ yếu dùng để vận chuyển lương thực, lúa, gạo, ngô, khoai, sắn, các thứ thực phẩm đem trao đổi hàng hóa rất cơ động, gọn nhẹ, được người Co cõng trên lưng, có 2 chiếc quai quàng qua đôi vai.
Phong tục tín ngưỡng thờ cúng của người Co là những dãy núi cao, được người Co gọi là núi Ông núi Bà . Quan niệm đó là nơi có ''thần linh'' trú ngụ, cả một đội ngũ và lực lượng hệ thống về ''ma'' (ka muych) và thần (kơi mah) rất đông đảo cũng chia nhiều loại có ngôi vị và thứ bậc khác nhau, chưa kể đến ma quế, ma cây đa, ma nước, ma lửa, ma đất ma bếp v.v… Người Co có quan niệm muốn được yên thân phải năng cúng bái, lễ lạt bởi thế người Co mới có nhiều lệ cúng lễ kiêng kỵ gắn liền đến sản xuất nông nghiệp.
Phong tục cổ truyền của người Co có nhiều ngày lễ trong một năm, lễ lớn nhất là lễ đâm trâu tế thần. Đây còn là ngày hội của cả làng. Tết chính, là sự thu hoạch kết thúc mộtmùa lúa rẫy, vào những dịp này cả làng gái trai già trẻ đều nhộn nhịp được phô diễn, mặc những bộ quần áo đẹp dân tộc, và các món ăn ngon dân tộc, được hát múa, trình diễn những bài hát dân ca truyền thống của dân tộc, tiếng cồng, tiếng chiêng trống xao động âm vang cả núi rừng.
Lịch của người Co có cách tính riêng về ngày tháng, gần giống với ngày tháng âm lịch của người Việt, nhưng thời giơn dành cho lao động sản xuất của người Co chỉ có 10 tháng trong một năm, còn thời gian còn lại dùng cho nghỉ ngơi, vui chơi hội hè, lễ bái, thực hiện những công việc riêng của mình.
Người Co rất yêu ca hát, được thể hiện trong các lễ hội đâm trâu, ngày hội mừng lúa mới (vui được mùa) và trong những ngày lễ dân gian khác. Người Co phổ biến là dùng bộ cồng chiêng, nhạc cụ có trống, các hoại đàn, các điệu dân ca, có nhiều truyện cổ, truyền thuyết, truyện ngụ ngôn. . . ẩn chứa một tình yêu thiên nhiên, đất nước, con người bao la, rộng lớn.
Theo tập quán của người Co, khi chết xác cho vào quan tài bằng gỗ đẽo độc mộc đưa đi chôn ở nghĩa địa của làng, không quá xa với chỗ ở, sau đó ''chia của'' cho người mới chết, ngoài đồ dùng còn có cả ché, chiêng đều đem ra để ở nhà mộ.
Bản chất người Co sống trung thực, đôn hậu, song cũng rất kiên cường bất khuất, họ tự ví mình như lòai chim líp (chim chèo bẻo). Trong thời kỳ 9 năm kháng chiến chống Pháp, không có một tên giặc Pháp nào giám mon men, bén mảng đến rừng quế của hai huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi) và Trà Mi (Quảng Nam), nếu đến đó bị bỏ mạng không có đường về. Người Co đã xây dựng căn cứ chống Pháp tại núi Cà Đam, đỉnh cao là giai đoạn những năm 1935 - 1936, các già làng tham gia chiến đấu rất dũng cảm, cùng với nhiều người ở nhiều làng nổi dậy tham gia phong trào Săn Brăm trang bị vũ khí tự tạo rất lợi hại. Những tên tuổi như: Cụ phó mục Gia, ông Tài, ông Chân, ông Toa, ông Vinh, ông Tựu, ông Triều, những người Việt này họ đã cùng kề vai sát cánh cùng người Co để chống kẻ thù xâm lược, đến ngày nay các thôn, nóc nào của người Co cùng vẫn còn truyền tụng truyện đánh Pháp cho đời sau.
Cuộc khởi nghĩa vũ trang của người Co ở huyện Trà Bồng tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 28-8-1959 trong lịch sử chống Mỹ, cứu nước, có sự phối hợp tham gia của nhiều dân tộc anh em ở trong vùng, tạo nên sức mạnh tổng hợp bằng ba mũi tấn công, chỉ trong một thời gian ngắn đã quét sạch bè lũ ngụy quân ngụy quyền tay sai cho đế quốc Mỹ, giải phóng toàn bộ huyện Trà Bồng, thành lập chính quyền cách mạng, mở đầu cho cuộc đấu tranh có vũ trang chống mỹ - Ngụy ở miền Trung.
Sau ngày toàn thắng mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất, quê hương của người Co đã thay đổi hàng ngày, cuộc sống đã định cư ổn định, dựng nhà ở đất sàn, vỡ đất khai hoang mở rộng diện tích canh tác. Giờ đây cuộc sống của người Co đã có cơm ăn áo mặc, về đời sống văn hóa xã hội, xóa được cái đói giảm được cái nghèo, thực sự ánh sáng văn hóa đã về với người Co.
Nguyễn Hải @ 13:42 21/02/2011
Số lượt xem: 719
- DÂN TỘC KHƠ MÚ (21/02/11)
- DÂN TỘC MẠ (21/02/11)
- DÂN TỘC GIÉ - TRIÊNG (21/02/11)
- DÂN TỘC CƠ TU (21/02/11)
- DÂN TỘC BRU - VÂN KIỀU (21/02/11)
Các ý kiến mới nhất