DÂN TỘC KHƠ MÚ
DÂN TỘC KHƠ MÚ
Người Khơ Mú là một trong những cư dân cư trú lâu đời nhất ở nước ta, tập trung chủ yếu ở các huyện Tương Dương Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An, thành phố Điện Biên, các huyện Sản Nhã, Mường La, Mai Châu, Thuận Châu, Mộc Châu (thuộc tỉnh Điện Biên và tỉnh Sơn La) và huyện Tuần Giáo tỉnh Lai Châu, huyện Văn Chấn tinh Yên Bái. Người Khơ Mú có nhiều tên gọi khác nhau như Xá Cẩu, Khá Khẩu, Mãng Cẩu, Tềnh, Pu Thềnh, Tày Hạy, Mứn Xen. Người Khơ Mú thuộc khối cộng đồng Lào Thênh, tên tự gọi là Khơ Mú hay Căm Mụ, với dân số khoản 43.132 người, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á).
Người Khơ Mú sống chủ yếu nhờ vào làm nương rẫy. Người Khơ Mú khi canh tác gieo trồng tính theo nông lịch, so với âm lịch thì sớm hơn hai tháng. Theo Lịch và cách tính của người Khơ Mú, tháng giêng là tháng kết thúc một năm lao động, sau khi đã thu hoạch một mùa rẫy và bắt đầu được an nhàn vui hội hè sửa sang dọn dẹp vệ sinh làng bản, quét dọn nhà cửa cho sạch đẹp thu xếp việc gia đình, lo việc cưới hỏi lễ bái.
Chu kỳ canh tác trồng trọt của người Khơ Mú theo một qui định. Việc sản xuất hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên, đất đai bị bạc màu một cách rất nhanh chóng, ruộng nương chỉ trồng cây từ một đến hai vụ lại phải bỏ hoang hóa, vì cứ tiếp tục canh tác thì tốn công tốn sức, không đem lại hiệu quả.
Làm nương rẫy hay gọi là ''xá ân lửa'' của người Khơ Mú theo tập quán du canh du cư là chủ yếu, còn bộ phận sống định cư thì họ thường canh tác theo chu trình vòng tròn. Lúa ngô là cây lương thực chính của người Khơ Mú, ngoài ra, họ còn trồng bầu, bí, đỗ và những cây có củ khác. Công cụ sản xuất gồm có rìu, dao, cuốc, gậy chọc lỗ. Trước đây, công việc hái lượm, săn bắn thú rừng giữ một vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế, bảo đảm sinh hoạt, giúp cho có đủ thức ăn hàng ngày và thời kỳ giáp hạt, vì trong sản xuất luôn bấp bênh, mỗi năm chỉ đủ ăn từ 6 đến 9 tháng như câu nói của người Khơ Mú ''năm được trâu năm bán con'' chính là vì vậy.
Do luôn phải sống trong tình trạng tạm bợ, nên bản làng của người Khơ Mú cũng nhỏ bé, ở nhà sàn, dựng cột không làm ngoàm, mộng khớp nối vách che phên, sàn ghép bương, hoặc luống, cũng có khi bằng vầu, tre. Ngày nay, có nhiều nơi người Khơ Mú đã làm nhà cột gỗ, lợp cỏ tranh, khang trang và vững chắc hơn trước.
Nghề thủ công như đan, dệt kém phát triển, chỉ có thu lượm nong thổ sản, măng, mộc nhĩ, nấm hương, mật ong đem đổi hàng hóa như quần áo, muối, công cụ, đồ dùng bằng sắt, đồ trang sức.
Người Khơ Mú có mối quan hệ rất chặt chẽ với những người cùng tộc và người láng giềng, gần nhất là người Thái. Mỗi bản gồm có nhiều gia đình thuộc các dòng họ khác nhau, mỗi họ có trưởng họ, đại diện tượng trưng cho dòng họ của mình. Trong xã hội người Khơ Mú đã có sự phân hóa làm hai tầng lớp người giàu kẻ nghèo.
Những dòng họ người Khơ Mú đều mang tên thú, chim, cây cỏ, chia ra làm ba nhóm tên họ: Nhóm tên thú gồm hổ, chồn, cầy hương; nhóm tên chim gồm có phượng hoàng đất, chìa vôi, cuốc bìm bịp; nhóm tên cây có guột, rau dơn, dương xỉ, tỏi. . . Cũng còn một số dòng khác mang tên những vật vô tri như: Rọ lợn, môi múc canh.
Trước cách mạng tháng Tám năm 1945, xã hội của người Khơ Mú hoàn toàn phụ thuộc vào xã hội Thái. Họ không tổ chức thành những prông để tự quản lý từng nhóm riêng lẻ như người Khơ Mú khi xưa ở Lào, mà họ đã bị phân tán xé lẻ, vào từng mường, dưới sự chỉ đạo và điều khiển của một anh người Thái. Riêng trường hợp ở thành phố Điện Biên, huyện Tương Dương và huyện Kỳ Sơn (tỉnh Nghệ An), các bản người Khơ Mú ở rải rác trong một huyện vẫn do một a-nha người Khơ Mú cai quản, nhưng phải đặt dưới quyền trực tiếp của chúa đất địa phương sai khiến.
Có thể coi như cả dân tộc Khơ Mú thời đó thuộc một tầng lớp trong giai cấp nông dân của xã hội Thái. Họ phải thực hiện một số khoản lao dịch, phu phen cúng nạp, theo đơn vị do chúa đất định ra buộc họ phải thực hiện. Họ còn bị phân biệt đối xử tàn tệ và kỳ thị rất hà khắc. Về mặt quan hệ dân tộc, ở mỗi bản Khơ Mú có người đại diện làm công việc tự quản, phải được sự đồng ý của chúa Thái để điều hành, thực hiện những tập tục truyền thống trong sinh hoạt hàng ngày.
Trong nội bộ bản người Khơ Mú cũng đã xuất hiện tầng lớp giầu nghèo. Những gia đình giầu thường hay làm cho dịch, làm một lao, tức làm nghề tôn giáo, có nhiều lao động làm nghề để sống. Gia đình nghèo là những gia đình có nhiều nhân khẩu nhưng lao dộng rất ít. Bản chất người Khơ Mú sống hiền lành chân thật, vui vẻ, mến khách, nếu khách đến chơi thăm một nhà được coi là khách của cả bản, ai cũng cởi mở chân tình.
Người Khơ Mú tuân thủ theo nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, bền vững, thanh niên nam nữ được tự do bình đẳng, lựa chọn người yêu của mình cùng trong một đẳng cấp. Vai trò của người phụ nữ trong xã hội Khơ Mú được tôn trọng bình dẳng. Trong thời gian kết hôn, vợ chồng phải cư trú bên nhà vợ đủ thời gian lại chuyển sang cư trú bên nhà chồng. Trong thời gian ở rể bên nhà vợ, người nam giới phải đổi họ mang theo họ vợ, nhưng vẫn dược giữ và duy trì tô tem của mình. Khi còn ở với mẹ, người con trai vẫn mang họ của mình. Khi ra ở riêng theo họ bố. Người con gái về nhà chồng mang theo họ bên chồng, nhưng vẫn giữ tô tem của mình.
Người Khơ Mú là một trong số những cư dân chậm phát triển. Xưa kia, người Khơ Mú tin rằng, mọi hoạt động trong đời sống xã hội hàng ngày của họ là do các loại siêu nhân vô hình chi phối được gọi chung là hroi (tức là ma).
Ngoài ra còn có hroi ta dạ (ma tổ tiên) và hroi gang (ma nhà) đó là các loại ma lành hay phù hộ con người, nhưng tính khí thất thường đôi khi giận dữ cũng dễ bị gây ra tai họa, trừng phạt con người.
Dấu vết tô tem giáo hiện còn rất rõ nét trong chế độ xã hội người Khơ Mú. Mỗi dòng họ có một nghi thức riêng để thờ tổ tiên. Hình thức thường giấu không được tiết lộ cho người ngoài, chủ yếu chủ nhà và gia đình phải bắt chước một số động tác của tô tem, việc này nhằm để xác định mình mang họ hổ, hay chim, chồn, hay rau dơn, dương xỉ v.v. . . Dấu vết tô tem giáo còn thể hiện ở việc cải trang là tô tem khi cúng lễ, kiêng cữ. Việc không giết và ăn tô tem cả những lúc bình thường, Việc mỗi dòng họ có những huyền thoại vì sao mang tên tô tem và quan niệm sau khi chết sẽ hóa trở lại kiếp tô tem của mình.
Sinh sống bằng nương rẫy, người Khơ Mú tin có tinh linh lúa, tượng trưng là bà mẹ lúa, trong quá trình canh tác gieo trồng, làm cho lúa sinh sôi nảy nở, mùa màng tốt tươi, họ cũng cầu mong trời đất làm cho mưa thuận gió hòa, thóc lúa đầy nhà mọi người ấm no hạnh phúc.
Trong sinh hoạt bữa ăn hàng ngày, người Khơ Mú thường đồ xôi, hay đồ ngô độn thêm sắn. Họ thích món ăn có vị cay, chua, dắng, các thức ăn nướng có mùi như: Chẻo, nậm, pịa và cá chua,
Về trang phục, người Khơ Mú mặc giống người Thái, nhưng có khác ở cách trang trí. Những hàng tiền bạc và vỏ ốc ở phía trước thân áo của phụ nữ đó là trang phục truyền thống của người Khơ Mú khi xưa, đến ngày nay phần nhiều người Khơ Mú nhất là nam giới họ ăn mặc theo kiểu người Thái và người Việt.
Phương tiện vận chuyển chủ yếu vẫn bằng gùi, có dây quai đeo trên thân, có điểm tựa tì vào vai có thể đi xa và leo dốc, có các loại túi để đeo, 1àm rương thì dùng thêm sọt để gánh. Đám ma của ngươi Khơ Mú gồm nhiều nghi thức ngưỡng, trong đó bài cúng tiễn hồn người chết kéo dài hàng vài giờ, sau đó mới đem đi chôn.
Người Khơ Mú theo lịch Thái, nhưng phổ biến là họ có cảm tính ngày giờ căn cứ theo bảng cà la để áp dụng trong việc dựng nhà, cưới vợ gả chồng. Ngoài Tết Nguyên Đáb ra, người Khơ Mú còn ăn Tết cơm mới, được tổ chức sau vụ gặt, tháng 10 âm lịch, đây là dịp vui của cả bản, và còn nhiều nghi liên quan đến nông nghiệp.
Người Khơ Mú có truyền thống yêu ca hát, có nhiều bài dân ca quen thuộc khắp vùng như bài ''tơm'' mang đậm nét thi và rất trữ tình, có nhiều điệu múa xòe, thổi các bộ sáo hơi, các bộ gõ bằng tre, nứa tự làm, đặc biệt 1à thổi khèn và kỹ môi.
Nguyễn Hải @ 13:42 21/02/2011
Số lượt xem: 642
- DÂN TỘC MẠ (21/02/11)
- DÂN TỘC GIÉ - TRIÊNG (21/02/11)
- DÂN TỘC CƠ TU (21/02/11)
- DÂN TỘC BRU - VÂN KIỀU (21/02/11)
- DÂN TỘC XTIÊNG (21/02/11)
Các ý kiến mới nhất