DÂN TỘC TÀ ÔI
DÂN TỘC TÀ ÔI
Người Tà Ôi sinh sống lâu đời ở Trường Sơn, đại bộ phận cư trú ở vùng núi cao tỉnh Quảng Trị và có một bộ phận ở rải rác xung quanh thung lũng huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế. Người Tà Ôi có các nhóm Pa Cô, Pa Hi, Kan Tua, riêng nhóm Pa Cô còn có tên gọi khác là: Tôi Ôi hoặc Ta Hoi. Tà Ôi 1à tên tự gọi, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Mê ngữ hệ Nam Á, với dân số khoảng 27.015 người.
Người Tà Ôi có những đặc điểm gắn gũi với hai dân tộc anh em sống kề cận là dân tộc Bru và dân tộc Cờ Tu, xét mật đặc điểm ngôn ngữ có nhiều từ chung giống nhau, có nhiều chỗ thống nhất trong hệ thống cấu trúc ngữ pháp, chính vì là nhóm ngôn ngữ của ba dân này hợp thành nhóm ngôn ngữ: Kơ Tu - Bru Bắc Trường Sơn thuộc ngôn ngữ Môn - Khơ Me.
Nhà (dong) của người Tà Ôi thường là nhà sàn dài, bộ trong chia làm nhiều ngăn, mỗi ngăn là một gia dình. Hầu hết các ngôi nhà sàn dài nào cũng dành một gian chính ở giữa dùng làm nơi tiếp khách gọi là moong. Nếu đối với những làng chỉ có một ngôi nhà sàn duy nhất, thì moong giữ một vị trí đảm đương chức năng như một ngôi nhà công cộng, ngoài ngôi nhà dài mỗi gia đình cũng có ngôi nhà nhỏ (xu két) được làm một cách vững chắc, để chống gió mưa. Có những gia đình họ thường xuyên sinh sống tại xu két, vì ngôi nhà lá dựng ở ven rừng để trông coi nương rẫy, khi gieo trồng và vụ thu hoạch, thỉnh thoảng họ mới về làng vào những dịp có hội, lễ Tết.
Từ lâu xã hội người Tà Ôi đã có sự phân chia giai cấp người giàu và kẻ nghèo. Tầng lớp giầu thường là các chủ làng, chủ họ, chủ đất, những người này bao giờ cũng nuôi người ở hoặc nô lệ để phục dịch hầu hạ, nhưng họ lại đối xử bình đẳng, tử tế coi như những người anh em con cháu trong nhà. Đứng đầu làng là cha sai (chủ làng) khi có công việc hệ trọng như: Người từ nơi khác đến phá phách nương rẫy, xâm hại đến tài sản, tính mạng của làng, lấn chiếm đất đai. . . chủ làng sẽ mau chóng triệu tập các ông già đại điện của các nhà dài, hoặc chủ gia đình (đối với làng chỉ có một nhà dài) bàn bạc lấy ý kiến, sau khi bàn bạc chủ làng là người có ý kiến quyết định sau cùng.
Chế độ hôn nhân truyền thống của người Tà Ôi là quan hệ hôn nhân một chiều theo kiểu dây chuyền. Hôn nhân anh em chồng, hôn nhân chị em vợ từ xưa đã được xã hội truyền thống của người Tà Ôi thừa nhận. Tuổi kết hôn của thanh niên nam nữ từ 15 đến 20, được quyền tự do lựa chọn người yêu của mình theo tập tục cổ truyền, nam nữ phải làm lễ cưa răng, rồi mới được đi tìm hiểu người yêu.
Về tình trạng hôn nhân ở hai nhóm Pa Cô và Pa Hi nam nữ có quan hệ giao kết hôn nhân trước khi làm lễ cưới. Điều này cả dòng họ và xã hội lên án một cách gay gắt, quyết liệt. Song ở nhóm Kan Tua còn có người gọi là Ca Tua) hiện tượng nam nữ trong thời gian mới tìm hiểu yêu nhau, họ vẫn có thể ăn ở với nhau (như vợ chồng) trong một ngôi nhà nhỏ xíu hoặc ở kho thóc ở chòi canh rẫy, nhưng lại cấm một cách tuyệt dối nghiêm ngặt việc nam nữ chưa làm lễ cưới mà ăn ở với nhau ở ngôi nhà lớn (đung) nếu không phải người cùng làng. Người con trai có thể ở lại bên nhà gái một hai ngày, mỗi lần tìm hiểu (póc xu) như vậy, người con trai phải đưa tiền hoặc tặng phẩm cho người con gái, hình thức này có tên gọi là Pnệ. Sau một quá trình tìm hiểu thấy ý hợp tâm đầu, ưng thuận nhau, người con trai báo với bố mẹ mình biết, việc lựa chọn người yêu của mình, để chuẩn bị đến nhà gái xin cưới cô dâu (vượt xéc), lúc này nhà gái được quyền thách cưới như: Vải may quần áo, gạo nếp, gà, cá, thịt, chum, ché, hạt cườm vòng đồng, vòng ngà voi, chiêng, kiếm. Sau lễ cưới cô dâu dọn về cư trú bên nhà chồng.
Người Tà Ôi có nhiều họ, nói đúng hơn là nhóm huyết thống cùng một tổ, có các họ như: Họ mía (a vét) kiêng uống rượu mía lúc chưa nấu, họ chồn (kê) kiêng ăn thịt chồn, họ chó (tkoal) kiêng ăn thịt chó, họ cối giã gạo (apal) kiêng dẫm nơi đang làm cối v.v. . . Những thành viên trong họ không được quan hệ hôn nhân, hoặc bất cứ một hình thức quan hệ ''tình cảm'' nào. Đó là điều nghiêm cấm hà khắc, ai vi phạm coi như đã làm điều xỉ nhục, và còn bị phạt rất nặng.
Đời sống chủ yếu của người Tà Ôi là trồng lúa trên rẫy. Một năm thời vụ trồng lúa vào tháng 3 đến tháng 6 âm lịch, nhưng vẫn được trồng xen canh với các loại cây ngô, khoai sắn, khoai môn, thích hợp với miền nặng núi, nương rẫy, nếu được trồng quanh năm, nhiều hơn cây lúa, và là cây lương thực chính. Việc xác định thời vụ họ chỉ dựa vào quan sát những hiện tượng tự nhiên. Thí dụ như ngửa mặt lên trời chòm Tiho hay nghe tiếng pa toong (chim bắt cô trói cột) hoặc tiếng ve sầu (a voanh) thì vẫn trồng trọt được. Sau này kỹ thuật canh tác là giống với người Bru - Vân Kiều và người Cờ Tu. Họ đã biết mở rộng diện tích cấy lúa nước ở nhiều địa phương. Trước đây việc săn bắn, hái lượm cũng đem lại một nguồn thức ăn đáng kể. Nghề dệt thổ cẩm truyền thống phát triển ở vài nơi, sản phẩm được dân tộc khác ưa chuộng hay dùng nhất là bộ phục có đính hoa văn bằng chỉ nổi cườm trắng.
Đồ đan mây tre còn chậm phát triển, chủ yếu để phục vụ có nhu cầu dùng hàng ngày, không mang tính chất hàng hóa, thứ đồ dùng bằng kim loại sắt, thép, đồ gốm thì trao đổi hàng hóa với người Kinh hoặc các dân tộc láng giềng gắn gũi khác.
Gạo tẻ là lương thực chính trong bữa ăn hàng ngày của người Tà Ôi. Ngoài ra, ngô, sắn, khoai và củ mài là nguồn bổ sung lương thực dồi dào mỗi khi hết gạo ăn. Thức ăn có cả thịt thú rừng săn bắt được, các loại cây có củ, các loại rau, măng, nấm hương, mộc nhĩ đem băm trộn với tiết - gia súc, Người Tà Ôi thích thịt luộc, uống nước lã, rượu tự cất bằng thân cây họ dừa, hút thuốc bằng tẩu tự tạo.
Phương tiện vận chuyển bằng gùi đeo sau lưng, có nhiều cỡ, nhiều loại khác nhau, được đan bằng mây hoặc là tre lồ ô. Riêng đàn ông có gùi 3 ngăn (theo kiểu cánh dơi) tương tự với chiếc gùi của đàn ông Cờ Tu, chủ yếu họ sử dụng trong những khi đi săn, vào rừng, đi sang làng khác trao đổi hàng hóa.
Người chết cho vào quan tài bằng gỗ độc mộc đem đi an táng ở bãi mộ của làng. Ở những gia đình khá giả, giàu có, thì quan tài làm bằng gỗ tốt, đục đẽo cầu kỳ hơn và trang trí hình đầu thú ở mộ có để của cải đem chia cho người chết.
Sau khi người chết được mai táng, đến khoảng vài ba năm sau, thân nhân của họ tổ chức làm lễ cải táng, lại đưa hài cốt vào quan tài mới đem chôn trong bãi mộ bên cạnh những đời quá cố thuộc dòng họ, lúc đó nhà mồ mới trang trí chạm khắc, vẽ trên gỗ cho đẹp.
Người Tà Ôi có nhiều tục kiêng cữ liên quan đến việc gieo trồng, sản xuất nông nghiệp. Khi vào vụ gieo trồng cả làng làm lễ chung gọi là Ape, tiếp theo mỗi gia đình cũng tự làm lễ riêng. Trong thời gian bắt tay vào vụ gieo trồng và vụ thu hoạch không cho khách vào làng. Những người đi thu hoạch tuốt lúa, ngày đó phải kiêng không được tắm rửa, không được đi tiểu tiện, ai không kiêng được thì phải về nhà, ngày hôm đó không được trở lại ruộng rẫy nữa. Trong thời gian thu hoạch cấm trai gái tìm hiểu yêu đương, nếu làm ngược lại phạm đến điều húy của thần linh sẽ trừng phạt cả làng bị tai họa.
Vì người Tà Ôi tin mọi vật ở đời này đều có siêu linh, từ trời đất, núi rừng, cỏ cây, khe suối cho đến lúa gạo đến con người, con vật đều có ''thần'' hoặc ''hồn''. Những vật thần linh này rất lạ, luôn biến hóa mà con người không dễ nhận biết, lại lúc ẩn lúc hiện có phép tàng hình, luôn luôn rình rập con người đe dọa cuộc sống của họ, nên phải kiêng để tránh điều họa, cầu lấy điều lành, cầu lấy vận may, cầu phúc cho cả làng.
Người Tà Ôi có một truyền thống đấu tranh cách mạng chống giặc ngoại xâm rất kiên cường bất khuất. Với tinh thầm yêu quê hương đất nước nồng nàn, đầu thế kỷ XX nhiều tên thực dân Pháp xâm lược đại diện cho mẫu quốc Pháp, dùng chiêu bài khai phá bảo hộ vùng đất của người Tà Ôi, họ đã nổi dậy nhiều lần giết chết những tên Pháp xâm lược.
Trong cuộc kháng chiến chung Mỹ cứu nước của dân tộc người Tà Ôi đã từng góp sức người sức của, đóng góp vô cùng to lớn cho cách mạng, bao nhiêu người tham gia vào việc vận tải lương thực, thực phẩm đạn dược vũ khí ra chiến trường chỉ quân giải phóng truy kích địch ở khắp mặt trận Tây Nguyên. Từ cuối năm 1958 đến năm 1960, người Tà Ôi đã đồng loã nổi dậy lật đổ toàn bộ bọn ngụy quân ngụy quyền trong bộ máy tay sai của đế quốc Mỹ lập nên chính quyền cách mạng ở xã A Túc huyện Hương Hóa là xã được Nhà nước phong tặng đanh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang. Ngoài ra còn có các anh hùng là người Tà Ôi như: Oan Lịch, Hồ Vai, Hồ Dục và A Nun. Anh hùng Hồ Vai là đại biểu Quốc hội khóa VII, là những người con ưu tú của dân tộc Tà Ôi, đã lập nên chiến công chói lọi trong trang sử vàng chống giặc ngoại xâm giữ nước.
Giờ đây, trong cuộc sống mới, người Tà Ôi mãi mãi có niềm tin đi theo Đảng, theo Bác Hồ, ra sức xây dựng quê hương ngày càng ấm no hạnh phúc và tốt đẹp hơn.
Nguyễn Hải @ 13:43 21/02/2011
Số lượt xem: 882
- DÂN TỘC CO (21/02/11)
- DÂN TỘC KHƠ MÚ (21/02/11)
- DÂN TỘC MẠ (21/02/11)
- DÂN TỘC GIÉ - TRIÊNG (21/02/11)
- DÂN TỘC CƠ TU (21/02/11)
Các ý kiến mới nhất