Gốc > Đất nước Việt Nam > Nếp sống văn hóa Việt > Văn hóa các Dân tộc Việt Nam >

DÂN TỘC MẢNG

DÂN TỘC MẢNG

Người Mảng là cư dân cư trú ở miền núi Tây Bắc nước ta nằm giữa sông Đà và sông Nậm Na, ở một số xã thuộc các huyện Sìn Hồ, Mường Từ, Phong Thổ, Mường Lay, tỉnh Điện Biên và tỉnh Lai Châu, những địa danh nói trên được coi là quê hương của người Mảng.

Mảng tên tự gọi ám chỉ người du cư. Người Mảng sống xen kẽ với người Thái, người Mảng, người Hà Nhì và một hai dân tộc láng giềng khác. Họ còn có nhiều tên gọi như: Mảng, Mạng Ư, Xã Mãng, Xã O, Mảng Niêng O; nhóm địa phương có Mảng Gứng, Mảng Lệ, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khơ Me, ngữ hệ Nam Á với dân số khoảng 2.493 người.

Xưa kia, người Mảng tin vào truyền thuyết của tổ tiên kể lại rằng: Vùng đất Muăng Buăng ở Nậm Ban (Dum Bai) huyện Sìn Hồ xưa là quê hương của người Mảng, cho tới ngày nay tại xã Nậm Ban, vẫn là nơi trung tâm, có số dân đông nhất người Mảng đang sinh sống. Căn cứ trên giúp chúng ta có thể nhận biết, người Mảng là một cư dân bản địa ở miền Tây Bắc, cho nên họ rất đỗi tự hào về tổ tiên họ, hàng nghìn năm trước, đã gắn bó nương tựa trên mảnh đất thân yêu, mà ngày nay họ đang sinh sống.

Người Mảng tự phân chia làm hai nhóm địa phương khác biệt ở độ cao, thấp về nơi cư trú, nhóm Mảng Gứng là người cư trú ở vùng núi cao, sống gần người Mảng, người Hà Nhì, còn nhóm Mảng Lệ (hay Mảng Hệ) là người sống ở núi thấp gần với người Thái.

Tập tục xưa của người Mảng là sống du canh du cư dựa vào nương rẫy, với một phương pháp canh tác rất đơn giản, lạc hậu, với số ít công cụ thô sơ tự tạo như: Chiếc rìu, con dao rừng, hòn đá cuội để đánh lửa đến nương rẫy, chiếc gậy chọc lỗ. Với phương pháp làm ăn đơn điệu như vậy, cho nên thu hoạch không có năng suất, chất lượng kém, cuộc sống của họ không đủ ăn, kinh tế kém phát triển.

Từ bao đời họ vẫn giữ lối làm ăn cố hữu, không cải tạo được thiên nhiên dể phục vụ lợi ích con người, hoàn toàn dựa vào tự nhiên may rủi, dựa vào đất trời, nên cuộc sống rất bấp bênh, nguồn sống chính dựa vào lúa nương và cây ngô, ngoài ra trồng thêm sắn, bầu, bí, đậu, đỗ, cây có củ v.v. .

Đối với nhóm người Mảng Lệ đã tiếp thu và học được cách canh tác của người Thái, khi làm nương cuốc đất trên ruộng bậc thang, làm hệ thống dẫn nước vào thu hoạch cho năng suất chất lượng cao.

Trước Cách mạng tháng Tám và những quá khứ xa xưa cuộc sống của người Mảng vô cùng khó khăn cực khổ, mà năm thiếu ăn từ 4 đến 5 tháng, phải vào rừng tìm thức ăn lượm hái, thu nhạt rau quả, nông lâm sản, xuống sông suối đánh bắt cá trở nên quang trở nên quan trọng và cần thiết.

Nghề chăn nuôi tăng gia sản xuất làm vườn, hầu như không phát triển, có nghề đan tre, đan gùi, đan cót để đổi lấy hàng được các dân tộc khác ưa dùng.

Làng của người Mảng (muy) thông thường có mấy chục nóc nhà sàn quần tụ trên đỉnh đồi hay bên sườn núi. Nhà của người Mảng nhỏ bé đơn sơ có hai mái, cửa ra vào mở về phía hai hồi, kết cấu của bộ khung sử dụng kỹ thuật ngoàm vào buộc, hai đầu mái không có khau cút như nhà của người Thái mà kiến trúc nhà hơi cong lên gọi là Pưởng nhưa, đó là ngôi nhà và làng truyền thống của người Mảng.

Người Mảng hàng ngày ăn hai bữa trưa và tối, họ ăn uống rất sơ sài, gạo sử dụng bữa nào giã bữa ấy bằng chày tay có gỗ, ngô ăn giã nhỏ đem nấu thành cháo đặc, thực phẩm măng và các loại rau rừng luộc chấm muối, đôi khi có chút ít tôm cá, thịt thú rừng nhỏ săn bắt được, hàng năm họ ít có dịp ăn mỡ các loại gia súc gia cầm.

Trang phục của người Mảng đàn ông mặc giống người Thái, chỉ có phụ nữ mặc váy dài (thông thường là họ mua hoặc trao đổi hàng hóa với người Thái) chiếc áo cánh ngắn xẻ ngực, ở cánh tay và thân trước được khâu nối những mảnh vải màu đỏ, để trang trí cho thêm phần sặc sỡ, đồng thời choàng cả tấm vải trắng, chéo qua bên nách buông xuống gối, có trang trí hoa văn đỏ, hoặc xanh trên nền trắng cho duyên dáng với đôi chân quấn xà cạp.

Phụ nữ Mảng cắt tóc ngắn vuốt ngược lên đỉnh đầu tạo thành hình một cái chỏm tóc. Trong xã hội cổ truyền trước kia của người Mảng, con gái lớn đến tuổi tìm hiểu xây dựng gia đình, thì phải thực hiện tục xăm quanh mồm và xăm tai để đeo vòng kim loại, nó là nét đẹp độc đáo của người phụ nữ Mảng, cũng hiếm thấy ở các cư dân láng giềng khác.

Cộng đồng của người Mảng là một công xã huyết tộc, khi vào mùa làm nương rẫy thì cả làng cũng kéo nhau đến rẫy, cùng một khoảnh rừng, tùy khả năng ai thích gieo trồng đến đâu thì phát đạt đến đó. Những ngày cuối vụ gặp lúc giáp hạt, thì có tục lệ “ăn xung quanh'' có nghĩa gia đình nhà này đã hết, không còn lúa để ăn, thì cứ việc lên nương lấy lúa chín của gia đình nhà khác mà ăn, cho đến khi nào gia đình mình có lúa chín để thu hoạch mới thôi, việc ăn xung quanh hoàn toàn không phải trả lại.

Làng của người Mảng bao gồm những gia đình nhỏ phụ quyền, đó là một đơn vị kinh tế - xã hội, thực chất nó đã để lại dấu tích của sự tan rã chế độ kiểu gia đình lớn phụ quyền. Người Mảng ở vùng Tây Bắc nước ta, hiện tổn tại năm dòng họ là: Văn Nở, Văn Nềnh, Tơ Lót, Tơ Gi Vẳng, và Tơ Ổ, mà từ xa xưa họ cư trú ở năm vùng, miền khác nhau trên lãnh thổ của thị tộc, các dòng họ đều theo chế độ kết hôn với người ngoài họ ''ngoại hôn'' thực hiện một cách rất nghiêm ngặt, đều lấy tên một con vật để thờ làm vật tổ, đứng dầu họ là mom đẳm là người cao tuổi nhất thuộc dòng trưởng nam, chịu trách nhiệm về mọi hoạt động: giáo dục, văn hóa, kinh tế xã hội cổ truyền, giáo đục về tôn giáo trong công xã huyết tộc xưa.

Ngày nay, vai trò và vị trí của mom đẳm không còn nữa nhường ma mom đẳm (phi đẳm) vẫn được thờ ở một vị trí trang trọng trong nhà. Ở trong xã hội cổ truyền thì đứng đầu các mom đẳm có pơ gia đặt ở Dum bai, lệ hàng năm người Mảng vẫn hành hương về đó tham gia lễ tế trời đất, do Pơ gia đứng  làm chủ tế.

Nam nữ được đối xử bình đẳng được tự do lựa chọn kết hôn, chỉ được kết hôn với người ngoài dòng họ, miễn là không vi phạm vào điều cấm, kết hôn với người cùng dòng họ, Người Mảng thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng, xác lập và củng cố có tính chất bền vững, vợ chồng sống hòa thuận không có tình trạng người đàn ông lấy nhiều vợ, hay hôn nhân bắt buộc, cữỡng bức.

Theo tập quán, phụ nữ người Mảng không sinh nở trong nhà, khi sắp đến tuần trở dạ, gia đình dựng cho một cái quán xa nhà để đẻ, người mẹ phải tự cắt bỏ lấy thai, tự nấu cơm ăn cho đến khoảng thời gian 20 ngày sau, người mẹ mới đưa con trở về nhà.

Từ xa xưa, người Mảng có tục hỏa táng cho người chết nhưng tục này đã bỏ từ lâu, thay vào đó là thổ táng, đào huyệt đem chôn, lấp đất phẳng san bằng làm nhà mồ rồi mặc, không thăm nom chăm sóc như tục của các dân tộc anh em khác.

Tín ngưỡng của người Mảng là vạn vật linh thiêng phổ biến là có mon ten, non ong là những tối linh tối thượng siêu hình là vị thần sáng tạo ra muôn loài, bên cạnh việc thờ tổ tiên, cón thờ ma dòng họ Phi đẳm, ma cha mẹ Phi on ni v.v . . .

Ngoài ra còn có những hình thức lễ nghi nông nghiệp liên quan đến hồn lúa (pạc nhuy lăm), cũng là dấu vết còn sót lại vai trò của người phụ nữ, trong chế độ mẫu hệ xa xưa.

Do ảnh hưởng của làn sóng di cư của người Thái vào miền Tây Bắc nước ta, từ thế kỷ XII và tiếp đến các thế kỷ sau, đã gây nên những biến động cơ bản đến các địa bàn cư trú của người Mảng, cũng như nhiều dân tộc khác đang cư trú trong vùng. Địa bàn cư trú của người Mảng bị thu hẹp lại, ranh giới thị tộc bị phá vỡ, người Mảng cũng như một số cư dân láng giềng khác trở thành một đẳng cấp xã hội bị phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của tầng lớp quý tộc Thái (Phìa tạo) và chế độ thực dân phong kiến, phải cho đến cuộc kháng chiến chống Pháp giành được thắng lợi, hòa bình được lập lại năm 1954, mọi quan hệ xã hội cũ được hoàn toàn xóa bỏ.

Người Mảng đã bước vào cuộc sống mới, đẩy lùi nghèo nàn lạc hậu, hết cảnh khổ cực tối tăm lam lũ, với cuộc sống du cư không có nơi ở nhất định, giờ đây làng người Mảng đã sạch sẽ khang trang, ổn định, con cái của họ được đi học chữ, người Mảng tự hào mình là thành viên trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 13:45 21/02/2011
Số lượt xem: 787
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến