Gốc > Đất nước Việt Nam > Nếp sống văn hóa Việt > Văn hóa các Dân tộc Việt Nam >

DÂN TỘC XINH MUN


DÂN TỘC XINH MUN

Người Xinh Mun là cư dân sinh sống ở miền Tây Bắc nước ta. Họ cư trú ở lưng chừng núi trên dải đất dọc biên giới Việt - Lào, từ thành phố Điện Biên tới Mộc Châu và một số huyện thuộc Yên Châu, Sông Mã, và Mai Sơn, nằm trong phạm vi thuộc các tỉnh Điện Biên, Sơn La, Lai Châu và một số khác sống ở vùng Trung Thượng Lào.

Tên gọi xưa kia của người Xinh Mun là Xá, Xá Puộc hay Puộc, chữ Puộc là biến âm từ chữ Thái Pụa (Thái Đen) hay Pô (Thái Trắng). Xinh Mun 1à tên tự gọi, nay đã thành tên gọi chính thức của một tộc danh có nhóm địa phương Xinh Mun Dạ và Xinh Mun Nghẹt (những tên gọi này dựa theo tên địa phương cư trú lâu đời như bản Nà Dạ, bản Nà Nghẹt) như vậy đã bỗng nhiên hình thành ra hai nhóm địa phương có những đặc điểm khác biệt về ngôn ngữ, cả về trình độ phát triển kinh tế xã hội. Nhóm Xinh Mun Dạ do ở vùng thấp thuận tiện đường giao thông, nên đã chịu ảnh hưởng tiếp thu ngôn ngữ của người Thái và một số dân tộc anh em láng giềng khác tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me thuộc ngữ hệ Nam Á với dân số khoảng 11.148 người.

Trải qua nhiều thế kỷ do điều kiện sinh sống chi phối để bàn dân cư, họ phải sống xen kẽ với người Thái bị ảnh hưởng dẫn đến vay mượn từ tiếng Thái trong giao tiếp, trao đổi hàn hóa, mua bán về hệ thống số đếm, tiếng Xinh Mun chỉ còn giữ lại bốn số đơn vị đầu. Trước sức mạnh của ngôn ngữ Thái ''chèn ép'' lâu ngày, tiếng Xinh Mun bị lấn lướt, ít khi còn được nghe tiếng mẹ đẻ ở các bản người Xinh Mun, từ khi thành lập khu kinh tế Nà Dạ, có nhiều người miền xuôi về sống làng việc ở đây, nhiều người Xinh Mun đã nói được tiếng phổ thông, con em của họ đã có trường học chữ quốc ngữ.

Người Xinh Mun là cư dân nông nghiệp làm nương rẫy, tiếng lúa và ngô là hai cây lương thực chính. Ruộng nương được phân ra làm ba loại: Nương dùng gậy chọc 1ỗ, nương dùng cuốc, nương dùng cày. Ở một số nơi làm ruộng là chính, hoặc sản lượng thu hoạch ở ruộng và lúa nương ngang nhau, thủy lợi dẫn nước ít được chú ý, phần lớn dựa vào tự nhiên.

Chăn nuôi gia súc, gia cầm kém phát triển, tuy ở mỗi gia đình có nuôi gà, nuôi dê nhằm làm vật hiến sinh phục vụ cho các nghi lễ tín ngưỡng tôn giáo. Tập quán nuôi trâu, bò thả ruộng ít được chăm sóc vẫn được thấy ở các bản Xinh Mun trước đây, tuy gần đây được hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi, làm chuồng trại, nhiều hợp tác xã đã nuôi đàn trâu bò tập thể, cuộc sống định cư,  nhiều nơi đã đào ao thả cá, bỏ được tập tục lạc hậu, đưa gia súc gia cầm chăn nuôi cách xa nhà ở, việc chăn nuôi tăng gia sản xuất đã mang lại hiệu quả phục vụ cho đời sống.

Người Xinh Mun sống trong hoàn cảnh môi trường thiên nhiên hoàn toàn thuận lợi, nên hái lượm vẫn giữ một vai trò quan trọng trong đời sống, trong việc cung cấp thức ăn hàng ngày, săn bắn chỉ nhằm mục đích bảo vệ mùa màng, hoa màu trong thời vụ, để khỏi bị thú rừng, chim muông tới phá hoại.

Nghề phụ trong gia đình khá phát triển, tiêu biểu phải nói đến mặt hàng đan mây toe, có đường nét tinh xảo, hài hòa, có tính tự cung tự cấp, nhiều địa phương các bản đã biết dệt vải,  học theo kiểu người Thái.

Đơn vị cư trú của người Xinh Mun là col nay gọi là bản. Bản của người Xinh Mun ở xen kẽ với bản của người Thái, chưa thành mô hình mường (xã) đơn vị riêng biệt. Hơn mười năm trở lại đây, do tình hình phát triển kinh tế, văn hóa xã hội, đặc biệt là chính sách quan tâm đến miền núi, vùng sâu vùng xa, người Xinh Mun đã sống định canh, định cư có cuộc sống ổn định, thành một đơn vị hành chính cấp xã, độc lập và riêng biệt, hoặc những xã có tỷ lệ người Xinh Mun chiếm tuyệt đại đa số.

Nhà ở của người Xinh Mun là nhà sàn mái vòm (giống mai rùa). Khi làm nhà, dựng cột có ý nghĩa hàng đầu. Chủ nhà phải mời người cậu tới dựng cột chính có treo ta leo, khò xình ba bốn vòng lạt nhỏ tượng trưng cho tiền bạc) cùng con dao, gói muối, cái thớt (mong muốn cho sự no đủ).

Trong lễ làm nhà mới, người cậu lại được mời tiếp dựng bếp, nhóm ngọn lửa đầu tiên trong cái bếp để nấu cơm, ngọn lửa này không được để tắt trong suốt đêm của buổi lễ.

Chế độ hôn nhân một vợ một chồng bền vững sau ngày lễ cưới, người vợ về cư trú bên nhà chồng, ít thấy hiện tượng vợ chồng ly hôn, là một nét đặc trưng chủ yếu của người Xinh Mun, vợ chồng sống yêu thương hòa thuận. Trong xã hội xưa người con trai có tục đi ở rể từ 8 đến 12 năm để trả công bố mẹ vợ đã sinh thành nuôi dưỡng vợ mình. Trường hợp nhà bà mẹ vợ hiếm hoi không có con trai, thì người con trai phải cư trú hẳn bên nhà vợ, gọi là ở rể đời, mục đích để phụng dưỡng bố mẹ vợ và thừa kế tài sản.

Trong quan hệ hôn nhân con chú với con bác cấm không được lấy nhau, con dì con già được phép lấy nhau cả về hai phía, tức con trai của chị lấy được con gái của em ngược lại cũng như con trai của em được phép kết hôn với con gái của chị, em trai cô (con chị em gái) và con gái cậu (con anh em trai được lấy nhau nhưng con trai của cậu và con gái cô không được kết hôn với nhau.

Ở vùng Yên Châu, Mai Sơn cho thấy người đàn ông vợ chê có thể lấy em gái của vợ, nhưng lại cấm tuyệt đối không được lấy chị gái của vợ. Trái lại, ở vùng Sông Mã tục này lại hoà toàn bị cấm cả về hai phía, nhưng lại cho phép khi anh trai chết, em có thể lấy chị dâu làm vợ, nhưng em trai chết, anh trai chồng tuyệt đối không được lấy em dâu làm vợ.

Trước Cách mạng tháng Tám dưới chế độ bọn đế quốc phong kiến, phìa tạo áp bức bóc lột, cống nạp lao dịch cuộc sống của người Xinh Mun vô cùng khổ cực du canh, du cư, nay đây mai đó trong những túp lều bằng tranh ở trong rừng, vì lý do trên mà nhiều người gọi tên là Xá lá vàng.

Xã hội của người Xinh Mun là một gia đình nhỏ, mỗi gia đình do người bố, chồng hay con trai trưởng đứng đầu. Nhưng ở Yên Châu lại tồn tại một tổ chức kiểu gia đình lớn gồm ba thế hệ, trong mỗi gia đình người Xinh Mun thường có từ 10 người đến 15 người, cá biệt có nhà có đến 20 người thậm chí 30 người. Trong gia đình, người phụ nữ được dối xử bình đẳng, có quyền tham gia bàn bạc công việc của gia đình, nhất là công việc cưới hỏi của con cái họ.

Khi có người chết, xác không cho vào quan tài gỗ, mà dùng tấm cót bó lại, đào huyệt đem chôn đắp đất lên mộ, trên nhà mồ làm cẩn thận, người Xinh Mun không có tục cải táng.

Theo phong tục của người Xinh Mun thờ cúng tổ tiên hai đời bố mẹ và ông bà, những người từ đời cụ trở lên thì được thờ chung cùng ma nương, ma bần, nơi thờ tổ hên ở góc nhà, được ngăn bằng tấm phên, bên trong treo bộ xương hàm lợn đã giết mổ hôm dựng phên thờ, để một chiếc giỏ bên đựng một ít tiền, một ống tre dựng nước. Ở nhóm Xinh Nghẹt các anh em trai, người nào đã ra ở riêng đều lập bàn thờ tổ tiên ở ngay nhà mình. Ở nhóm Xinh Mun Dạ thì lại khác, chỉ có người anh trai cả mới có quyền thờ cúng tổ tiên. Người Xinh Mun nói chung cả hai nhóm (Dạ và Nghẹt) đều có tục thờ bố mẹ vợ ở một chiếc lều nhỏ cách xa nhà chính khoảng chừng 10 - 15 mét, nó là nét đẹp văn hóa truyền thống của người Xinh mun thể hiện sự trọng thủy chung và sự tôn vinh giữa hai bên cha mẹ bên chồng, cũng như bên vợ, củng cố một quan hệ gia đình vững chắc là tế bào của xã hội.

Kể từ ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc năm 1954, với 50 năm một chặng đường biến đổi to lớn về mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa xã hội cho đến những năm 2000, người Xinh Mun đã cơ bản xóa được đói giảm được nghèo, hoàn thiện hệ thống phổ cập trình độ văn hóa phổ thông, xóa bỏ những tập tục lạc hậu mê tín dị đoan như: Ma thuật, bùa ếm, tin ở cõi ma cúng khi có người nhà đau ốm, đến nay còn có người tin vào chuyện đó nữa.

Ngày nay, cái lý của người Xinh Mun đã tỏ, đường đi của người Xinh Mun đã rõ, chỉ biết nghe theo lời Đảng, quen với dùng thuốc và khám chữa bệnh ở các trạm y tế của xã, không ai còn nghe theo lời kẻ xấu và con ma rừng nữa.


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 13:45 21/02/2011
Số lượt xem: 815
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến