Gốc > Đất nước Việt Nam > Nếp sống văn hóa Việt > Văn hóa các Dân tộc Việt Nam >

DÂN TỘC BRÂU


DÂN TỘC BRÂU

Người Brâu là một cư dân có dân số ít ở nước ta, cư trú tại làng Đắc Mễ xã Bờ Y huyện Đắc Tô tỉnh Kon Tum, đồng thời cũng là cư dân đến cư trú ở nước ta muộn nhất khoảng 100 năm (đầu thế kỷ XX). Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn Khơ Me ngữ hệ Nam Á, với dân số khoảng 243 người. Brâu là tên tự gọi. Người Brâu sống chủ yếu bằng nghề trồng lúa nước trên nương, rẫy. Họ trồng lúa nếp nhiều hơn lúa tẻ, ngoài ra còn trồng xen canh ngô, sắn, đậu, dưa, bầu, bí. Ngoài những cây lương thực, thực phẩm ra, họ còn biết trồng các loại cây ăn quả như mít, chuối, cam, chanh, bưởi v.v. . .

Phụ nữ người Brâu không biết dệt, chính vì vậy mà họ cho trồng phát triển đến tăng gia sản xuất trồng hoa màu để có sản phẩm thu hoạch đem đổi lấy vải, lấy quần áo mặc. Nghề thủ công có rèn, đan mây tre tương đối phát triển, cung cấp đồ dùng cho gia đình, hoặc đem đổi lấy hàng hóa vật dụng cần thiết cho nhu cầu sinh hoạt.

Mỗi làng có (Si rắc) nhà rông ở chính giữa là nơi sử dụng công cộng như hội họp vui chơi giải trí còn là nơi tập trung đông đủ của các trai làng. Nhà (Nam) của người Brâu phần lớn là sàn, trang trí (bờ tơ kuôi) ở hai đầu hồi, theo kiểu đầu chim hom giỏ, nan quạt, cách nhà chính có nhà phụ nhỏ thông với nhà chính bằng một cầu thang bắc nối giao nhau, là nơi ngồi của các người già cao tuổi, hoặc làm kho cất giữ lúa ngô, đồ dùng quý, chiêng cồng nồi đồng.

Trang phục xưa đàn ông thường đóng khố cởi trần, phụ nữ mặc váy quần có kẻ sọc ngang, cởi trần. Khi mùa lạnh, cả nam nữ đều dùng chăn quấn để đỡ lạnh. Tập quán cổ truyền phụ nữ Brâu thích căng tai, lỗ tai càng to trễ xuống mới là đẹp. Bởi thế các em gái mới tên 2 - 3 tuổi bố mẹ đã chú ý đến việc căng tai và xâu lỗ đeo vòng bằng lồ ô, gọi là tiêu. Những gia đình có hoàn cảnh kinh tế thì đeo vòng bằng liêu bloóc bằng khúc ngà voi mài nhẵn có đường kính 2cm. Nam nữ đều có tục xăm mình xăm mặt (trân rắc). Tục cưa răng không phân biệt nam hay nữ, khi đến tuổi 14 - 15 đều phải thực hiện tục cưa răng, nhưng chỉ cưa có 4 răng cửa hàm trên, người đó mới có quyền được đi lấy vợ mới được tham gia vào mọi công việc xã hội của cộng đồng.

Đặc điểm phụ nữ người Brâu thích đeo nhiều vòng ở cổ, ở tay bằng kim loại, đồng, bạc, nhôm. Trai gái đến tuổi trưởng thành được tự do lựa chọn người yêu, mọi người đều đối xử bình đẳng. Sau khi đồng ý, gia đình làm lễ hỏi (đoóc gia vu) và tổ chức lễ cưới (bđoong chikt) ngay bên gia đình nhà bố mẹ vợ. Nếu không may mà gặp phải trường hợp vợ chết thì có thể lấy em vợ, nhưng không được lấy chị gái của vợ. Cũng có trường hợp vợ lấy hai chồng cùng sống chung với nhau, nhưng người chồng sau phải làm riêng bữa tiệc, quà mừng cho người chồng trước. Ở làng Đắc Mễ còn thấy hiện tượng hai chú cháu cùng lấy chung một vợ, hai trường hợp khác một phụ nữ lấy cả cháu lẫn chú.

Trong xã hội, người Brâu còn tồn tại chế độ gia đình mẫu hệ, quyền của ông cậu giữ một vị trí vai trò quyết định trong các cuộc hôn nhân của cháu (con của chị hoặc con của em gái mình). Cậu có quyền thay cha mẹ hưởng lễ lạt, biếu xén khi làm công việc dựng vợ gả chồng cho các cháu.

Người Brâu có quan niệm và tin rằng vũ trụ là do vị thần tối cao Pa xây sinh ra, Pa xây còn tạo ra bầu trời, mặt đất và muôn loài. Mỗi bước đi của Pa xây là thành sông, thành suối, thành núi, thành biển. Pa xây còn làm ra mưa gió, làm ra sự sống và cái chết. Người Brâu cũng giống một số dân tộc khác ở Tây Nguyên cho rằng vạn vật hữu hình, một thế giới đa thần gồm thần núi, thần sông, thần biển, thần cây cối đều là nhân vật linh thiêng. Làng của người Brâu chỗ nào cũng ,thấy cắm la liệt những cây cúng thần, gọi là sóc róc (đoạn lồ ô cao từ 0,80m - 1mđầu trên được chẻ ra đan hình hom giỏ ngửa lên trời). Tất cả các nghi lễ cúng thần đều được thực hiện từ những cây cúng thần này. Người chủ nhà đồng thời kiêm luôn chủ lễ.

Người Brâu rất yêu thích văn nghệ. Các người già thường kể cho con cháu nghe về thuở xa xưa cái buổi Un cha đắc lếp (nửa cháy nước ngập), thuở Pa xây sinh ra trời đất cây cỏ, muôn loài, thể hiện bằng những làn điệu dân gian, nam nữ cùng nhau hát thâu đêm suốt sáng gọi là mót muol, mót muol, có tính sử thi của nhiều truyện kể về các chàng trai Brâu dũng cảm chống 1oài thú độc ác bảo vệ dân làng, người ở hiền gặp lành. Truyện về những cái thiện bao giờ cũng thắng cái ác. Nội dung cốt truyện có yêu tố tác động tinh thần tự hào dân tộc, giáo dục đạo đức nhân nghĩa và cách ứng xử giữa những con người với nhau trong xã hội.

Nhạc cụ của người Brâu gồm có chiêng cồng, đàn lôi bút, nổi bật là một loại chiêng người Brâu gọi là tha. Mỗi bộ tha có 2 người sử dụng, cha tha lên sào dùng gậy chọc phát thanh âm ra. Vào những ngày lễ họ sử dụng hàng chục bộ sào tha, kéo dài suốt nhà rông, với 20 đến 30 người chơi như một dàn hợp xướng vang động núi rừng hùng vĩ.

Khi có người chết, người chủ nhà nổi chiêng trống lên báo tin, quan tài niệm cho vào thân cây khoét rỗng, để ở ngay nhà tang mới làm gần nhà, làm đễ tang xong đem hạ huyệt chôn nửa chìm nửa nổi. Nhà mồ làm trên mộ để chứa những tài sản được chia, đa số đã làm hỏng sứt mẻ, gầy vỡ hoặc cho thủng.

Kể từ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tổ quốc chưa thống nhất, nhờ chính sách và đường lối dân tộc của Đảng và Nhà nước, vị trí trong đời sống chính thị, văn hóa tinh thần có người Brâu được đề cao, là thành viên trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đang có những bước đi vững chắc, xóa bỏ nghèo nàn lạc hậu, tiếp thu trình độ khoa học kỹ thuật, để cải tiến phương pháp trồng lúa trên nương rẫy. Giờ đây cuộc sống người Brâu đã biết bao thay đổi, có trường học, có trạm y tế để khám chữa bệnh. Người Brâu rất yêu quê hương và đất nước Việt Nam yêu quý của mình.


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 13:46 21/02/2011
Số lượt xem: 680
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến