Gốc > Đất nước Việt Nam > Nếp sống văn hóa Việt > Văn hóa các Dân tộc Việt Nam >

DÂN TỘC Ơ ĐU

DÂN TỘC Ơ ĐU

Người Ơ Đu là một quần thể cư dân cư trú chủ yếu ở huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An, là một cư dân có dân số ít nhất so với cộng đồng các dân tộc anh em khác ở nước ta. Xưa kia tổ tiên người ơ Đu cư trú dọc hai con sông Nặm Mộ và Nặm Nơn. Do có biến cố về lịch sử, họ phải rời đi nơi khác để định cư. Người ơ Đu ở huyện Tương Dương đông nhất vẫn là các bản Xốp Pột, Kim Hòa xã Kim Đa, họ hợp gần gũi với nhóm Tây Poọng cư trú ở tỉnh Sầm Nưa (Lào). Tên tự gọi là Ơ Đu hay I Đu, còn tên gọi khác là Tày Hặt (người đói rách). Tiềng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me ngữ hệ Nam Á với dân số 198 người.

Địa bàn cư trú của người Ơ Đu sống xen kẽ với người Thái người Khơ Mú và người Hhông. Dưới chế độ thực dân phong kiến bóc lột, người Ơ Đu sống vô vàn cực khổ. Bọn chủ đất bọn Phìa tạo người Thái cho cướp hết ruộng rẫy, rùng núi buộc họ phải làm nô lệ, cày cấy không có công, vào rừng tìm kiếm sản vật quý để cung tiến cống nạp, đổi lấy quyền được cư trú trong địa giờ, chúng cai quản, miệt thị đối với ngươi Ơ Đu bằng cái tên người đói rách (Tày Hặt) mới được phát rẫy làm thuê, đẩy người Ơ Đu vào cuộc sống cùng cực, nhưng họ vẫn không quay trở lại đời sống nông nghiệp, mà đã chuyển sang hái lượm, săn bắn thú rừng làm cuộc sống chính.

Trong quá trình phát triển hình thành người Ơ Đu đã trải qua một trình độ xã hội có tổ chức, có kinh nghiệm sống, đấu tranh với thiên nhiên để tồn tại. Nhờ dó mà ngày nay người Ơ Đu đã trở thành một cư dân nông nghiệp, định cư định canh, có cuộc sống ổn định, có trình độ khoa học kỹ thuật trong canh tác, biết làm cỏ bỏ phân, cày bừa ruộng nước và kỹ thuật gieo trồng lúa trên nương rẫy, chăm bón tưới nước về đồng ruộng, có hệ thống thủy lợi. Ngoài cây lúa là cây lương thực chính họ còn trồng ngô, khoai, sắn, bầu, bí, ý dĩ và các loại họ đậu đạt hiệu quả năng suất chất lượng cao, để bảo đảm lương thực, thực phẩm cho sinh hoạt đời sống hàng ngày. Phụ nữ người Ơ Đu ngày nay đã biết xe sợi dệt vải, cắt may, thêu thùa, đan lát, nghề mộc dành cho nam giới, các nghề phụ trong gia đình được phát triển mạnh trong khoảng dăm bảy năm trở lại đây.

Mặc dầu dân số rất ít cư trú không tập trung ở mỗi bản chỉ có vài ba gia đình là người Ơ Đu còn phần đông là họ cư trú rải rác, chỉ có hai bản Xếp Pột và bản Kim Hòa là có đông người Ơ Đu cho nên họ phải hòa nhập vào các cộng đồng đông người hơn. Tuy trên thực tế là như vậy, nhưng họ không bị phân hóa, họ còn có tính thống nhất dân tộc và tính tự giác của tinh thần dân tộc, tự nhận mình là một cộng đồng riêng, có tên gọi của tộc danh riêng. Cho nên người Ơ Đu vẫn tồn tại là một dân tộc, với giá trị nguyên vẹn của nó. Có điều đáng buồn là hiện nay phần đông người Ơ Đu không nói được tiếng mẹ đẻ vì quá lâu không sử dụng nên đã quên đi nhiều, nếu có nói thì chỉ vài tá ngữ thông thường, còn rất ít người nói được tiếng mẹ đẻ. Nhưng một bộ phận đã có ý thức dân tộc, học lại tiếng Ơ Đu, không chỉ dùng để nói, mà còn có ý nghĩa tìm về cội nguồn xa xưa của họ.

Người Ơ Đu đều nhớ đến quãng đời trước kia mà tố tiên của họ đã trải qua, nhiều truyện kể có liên quan đến đất đai, tên làng, tên sông, tên suối, tên những địa danh di tích còn để lại hay những bộ trang phục cổ truyền của một số cụ già còn giữ lại để bảo lưu nét văn hóa của dân tộc mình. Cũng vì những điều này mà kiểu nhà của người ơ Đu đều quay về núi được gọi là dinh huông tặng, ngoài ra họ còn làm một số nghi  thức nương rẫy riêng biệt.

 

Tổ tiên của người Ơ Đu trước kia không có họ, nay họ lấy họ người Lào, hay mang họ người Thái như các họ Lò Khăng, Lò May, Lò Văn v.v. . . Người Ơ Đu sống theo kiểu gia đình nhỏ. Trong quan hệ hôn nhân và trong gia đình, người đàn ông được toàn quyền quyết định mọi việc, đàn bà không được hưởng thừa kế tài sản. Nhưng theo tập quán người Ơ Đu vẫn có tình trạng ở rể, với điều kiện nhà trai đã trả đủ số tiền (mua đầu người) klây gláy, thời hạn đi ở rể của người Ơ Đu chỉ có một năm.

Cách tính năm của người Ơ Đu là từ ngày có tiếng sấm đầu xuân, đây là tục lệ rất cổ của cư dân nông nghiệp vùng Đông Nam Á. Nếu trẻ em sinh ra vào ngày có tiếng sấm xuân đầu tiên, thì được tính thêm một tuổi. Nam hay nữ muốn tái giá lấy vợ hay lấy chồng lần thứ hai, phải đợi qua ngày tiếng sấm đầu mùa, vì họ quan niệm người vợ hoặc người chồng của họ đã chết đến lúc đó mới ''đi khỏi nhà. Ngày sấm đầu mùa còn được coi là ngày hội lớn nhất trong một năm. Vào những ngày đó khắp các bản đều vui nhộn nhịp, như bản Xốp pốt, người Ơ Đu ở các nơi cùng kéo về dự hội, lễ trời đất, họ mổ trâu, mổ lợn để ăn mừng hội lễ sấm đầu năm (chăm phtroong trmây).

Về tôn giáo hay tín ngưỡng của người Ơ Đu xuất hiện ít hơn người Thái hay người Khơ Mú. Họ tin rằng khi người chết hồn biến thành ma, hồn thân thể trú ngụ ở bãi tha ma, hồn gốc ở chỏm tóc ở lại làm ma nhà. Ma nhà chỉ ở với con cháu một đời theo thứ tự tính từ con trai cả đến con trai thứ, một khi các con trai đã chết hết, thì làm lễ tiễn ma nhà về với tổ tiên. Nơi thờ ma nhà là tại một ước hồi gian thứ hai, bàn thờ được làm đơn giản treo cao sát mái nhà.

Ngày nay với đường lối chính sách dân tộc của Đảng và của Nhà nước ta luôn quan tâm đến đời sống văn hóa tinh thần của người Ơ Đu, đặc biệt là vị trí vai trò của người Ơ Đu trong xã hội được bảo đảm đề cao bản sắc văn hóa của dân tộc mình được bình đẳng ngang hàng với các dân tộc anh em khác trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam. Giờ đây người Ơ Đu cũng như một số dân tộc khác ở trong vùng đều có cuộc sống yên lành, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa được hưởng các thành quả về kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, các bản của người Ơ Đu đã có trường học tiếng phổ thông, có trạm y tế. Đời sống của người Ơ Đu nhờ có Đảng, có Bác Hồ giờ đây đã có cơm ăn áo mặc, rũ sạch cuộc sống cơ cực nghèo hèn, không còn bị khinh rẻ miệt thị gọi cái tên là ''người đói rách'' như trước đây. Họ càng tiến lên xây dựng một đời sống mới ấm no và hạnh phúc trên quê hương của mình.


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 13:46 21/02/2011
Số lượt xem: 734
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến