Gốc > Đất nước Việt Nam > Nếp sống văn hóa Việt > Văn hóa các Dân tộc Việt Nam >

DÂN TỘC THÁI

DÂN TỘC THÁI

Người Thái là Cư dân đến sinh sống ở nước ta rất sớm, tổ tiên của họ xa xưa có nguồn gốc ở vùng Đông Nam Á. Người Thái cư trú suốt một dải ven theo các con sông Thao, sông Đà, sông Mã đến tận sông Lam. Người Thái có mặt ở nước ta từ cuối thế kỷ XI cho đến ngày nay.

Ngành Thái có nhiều ngành, mỗi ngành lại chia ra làm nhiều nhóm khác nhau:

1. Ngành Thái đen (Táy Đăm) ở tỉnh Sơn La và huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên, tỉnh Lai Châu.

2. Ngành Thái trắng (Táy Khao) ở tỉnh Lai Châu và các huyện Phú Yên, Bắc Yên, Quỳnh Nhai tỉnh Sơn La.

3. Ngành Thái ở huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La và huyện Mai Châu tỉnh Hòa Bình.

Ở các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hòa Bình có các nhóm Hàng Tổng (Tày Chiềng hay Tày Mường), Tày Thanh, Tày Mười và Thổ Đà Bắc. Thái là tên gọi phổ biến, chính thức của một tộc danh. Còn người Thái tự gọi mình là Táy với dân số khoảng 1.254.368 người, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Đai).

Suốt trong một quá trình của chiều dài lịch sử trên mảnh đất Việt Nam người Thái đã sớm hòa nhập với cộng đồng người Việt, cùng các dân tộc anh em khác trong cuộc đấu tranh giữ nước, chống giặc ngoại xâm và các thế lực có ý đồ xâm lược từ bên ngoài. Người Thái đã góp phần xứng đáng trong việc chiến đấu bảo vệ đất nước. Người Thái có nhiều các đội quân và trực tiếp tham gia đội quân miền sông Hồng dưới sự chỉ huy của tướng Trần Nhật Quật chặn đánh quân Nguyên trên đường thua chạy, đội quân áo đỏ chống quân Minh hoạt động ở vùng Tây Bắc và vùng núi tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, có những thướng lĩnh chỉ huy suất sắc là người Thái của Lê Lợi như: Xa Khả Sâm, Cầm Quý, Cầm Lạn v.v..,

Đến thế kỷ thứ XVIII phong trào người Thái ủng hộ người anh hùng nông dân áo vải Hoàng Công Chất xây dựng căn cứ địa tại đất thành phố Điện Biên lịch sử ngày nay phối hợp với Lê Duy Mật đóng quân ở miền núi tỉnh Nghệ An đã bền bỉ, kiên cường chiến đấu chống tập đoàn phong kiến Lê - Trịnh. Từ những buổi đầu chống chủ nghĩa thực dân Pháp âm mưu xâm lược nước ta, người Thái đã cùng nhân dân cả nước vùng dậy tham gia vào những trận đánh lớn như trận Cầu Giấy giết tên quan năm Hăngri Rivie, tổ chức đánh bao vây thành Tuyên Quang, chặn đánh quân Pháp dọc sông Hồng, sông Đà. Tiếp đến là liên tiếp các cuộc nổi dậy của người Thái chống thuế chống đi phu, hưởng ứng phong, trào chống Pháp của Lươn Bảo Định, Giàng Tả Chay thủ lĩnh người địa phương trong thời kỳ Cần Vương. Đặc biệt là Cầm Bá Thước đã bền bỉ ngoan cường chống quân Pháp tại vùng núi tỉnh Thanh Hóa và tỉnh Nghệ An. Để tưởng nhớ công lao của ông tại quê hương đã mang tên huyện Bá Thước tỉnh Thanh Hóa.

Từ khi có Đảng, có cách mạng, người Thái đã một lòng đi theo Đảng, đi theo cách mạng, hết sức giúp đỡ bảo vệ các chiến sĩ cộng sản tại nhà từ Sơn La, tổ chức để vượt ngục (cho đồng chí Nguyễn Lương Bằng, đồng chí Trần Đăng Ninh và các đồng chí ở Căng Bá Văn Nghĩa Lộ). Suốt 29 năm qua, trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, người Thái đã dồn sức người sức của ra tiền tuyến đánh giặc nhất là trong chiến dịch Điện Biên Phủ, gửi hàng vạn con em ra chiến trường giết giặc. Trong chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, dân quân Thái đã góp phần bắn rơi nhiều máy bay Mĩ. Người Thái ngày nay vẫn kiên trì trụ vững trong sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước, người Thái vẫn vững vàng đứng trên tuyến đầu của Tổ quốc, bảo vệ an ninh một vùng biên giới.

Địa bàn cư trú của người Thái là ở những thung lũng màu mỡ và ven các sông suối, là một quần thể cư dân nông nghiệp trồng lúa nước từ lâu đời, giàu kinh nghiệm làm thủy lợi, đào mương, đắp phai làm cọn, và máng dẫn nước vào mương. Hệ thống thủy lợi nhỏ này rất phù hợp với địa hình vùng thung lũng ven sông suối ở vùng núi. Lúa là cây lương thực chính được trồng hai vụ, hiện nay nhiều nơi đã thu hoạch trên 5 tấn/ha, ngoài ra còn trồng nhiều cây lương thực khác như ngô, khoai, sắn. Trên ruộng nương thì dành cho trồng bông, trồng chàm, các loại rau xanh, bầu, bí v.v. . .

Rừng là nơi cung cấp nguồn nguyên vật liệu các nhu yếu phẩm cần thiết cho các bữa ăn thường ngày, cả lương thực dự trữ để dành cho những khi giáp hạt do lũ lụt hạn hán gây ra.

Ngoài ra, người Thái còn biết hái lượm săn bắn thú rừng, đánh cá ở sông suối cũng đem lại nguồn lợi đáng kể. Ngày nay, nghề săn bắn không phát triển do hợp tác đã quản lý, chuyển sang trọng tâm là khai thác lâm thổ sản, phong trào trồng rừng đang phát triển mạnh, xã viên được giao đất giao rừng, cuộc sống ngày càng trở nên khấu khá.

Theo phong tục cổ truyền của người phụ nữ Thái trước đây, sau ngày cưới về nhà chồng phải mang theo chăn màn, vải gối đệm, tấm thổ cẩm kiểu nào đẹp nhất để đủ dùng cho cả gia đình nhà bên chồng theo tập quán của người Thái, đó cũng là nét đẹp văn hóa độc đáo riêng.

Nghề dệt truyền thống của người Thái ở Thanh Hóa, Nghệ An vốn từ lâu đã nổi tiếng. Người Thái xưa kia không họp chợ (chỉ có chợ họp định kỳ ở vùng biên giới Việt - Trung), việc trao đổi hàng hóa cũng hạn chế, chỉ tập trung vào một số nhu yếu phẩm cần thiết, thương lái người Thái cũng thường mang hàng qua lại để bán, hoặc đổi lấy sản vật quý của địa phương.

Khi còn chế độ thực dân Pháp, một số chúa đất dã bỏ “vốn" kinh doanh, phân phối tiêu thụ hàng hóa một cách độc quyền đó cũng là hình thức bóc lột người lao động theo chế độ tư bản chủ nghĩa của người Thái thường có từ 40 đến 50 nóc nhà, nếu là bản lớn có thể đến 100 nóc nhà, mỗi bản có định ra ranh giới, có rừng, ruộng đất, bãi thả trâu bò, khu rừng cấm, bãi tha ma, nguồn nước riêng của bản mình.

Ngôi nhà ở truyền thống của người Thái là ngôi nhà sàn bằng gỗ hoặc bằng tre, rộng rãi thoáng mát, lại yêu câu có yếu tố thẩm mĩ nói chung. Mỗi ngành Thái lại có những yêu cầu khác nhau, thí dụ mái nhà Thái đen hình mái rùa, có nhân khau cút ở đầu hồi, còn mái nhà người Thái trắng thì hình chữ nhật nhà có lan can chạy mặt trước hay xung quanh, còn kiểu nhà người Thái ở Thanh Hóa, Nghệ An, có dáng dấp giống nhà sàn Mường, còn một số vùng vẫn bảo tồn giữ được ngôi nhà sàn truyền thống, chỉ có một cầu thang, dụng cụ và đồ dùng trong gia đình đơn sơ, sắp xếp trong nhà gọn gàng ngăn nắp.

Trang phục của người Thái giữa các ngành, các nhóm địa phương cơ bản giống nhau. Phụ nữ Thái mặc rất đẹp gồm chiếc khăn hoa, chiếc áo choàng áo ngắn tay có hai hàng khuy bạc, chiếc váy màu đen bó sát vào chân, thắt lưng ''eo'' bằng dải lụa màu xanh lá cây, đeo dây xà tích bạc ở bên hông. Ngày lễ tế có thể mặc thêm chiếc áo dài màu đen, xẻ nách, hoặc chiếc áo kiểu chui đầu hở ngực, có hàng khuy bướm rất duyên dáng.

Nam giới người Thái mặc quần kiểu ống chân què có cạp để thắt lưng, áo cánh xẻ ngực có túi ở hai bên vạt áo.

Trước Cách mạng tháng Tám, người Thái sống trong các mường lớn đứng đầu là một chúa đất, mỗi mường lớn bao gồm có nhiều mường nhỏ gộp lại, nếu xét về mặt đơn vị xã hội là bản - công xã nông thôn - có các đại gia đình và những tiểu gia đình nhỏ thuộc nhiều dòng họ khác nhau, cho nên mỗi bản đã trở thành một đơn vị kinh tế, chính trị. Các gia đình được chia ruộng đất công, cùng nhau có trách nhiệm gánh vác công việc cả mường.

Chúa đất và các chức dịch quản lý nắm giữ tất cả ruộng đất, rồi ban phát phân chia nghĩa vụ gánh vác cho từng gia đình: Chúa đất chiếm phần đất dành cho mình rộng lớn hơn, gọi là ruộng chúa. Họ hàng nhà chúa cũng được đặc quyền đặc lợi nhận được phần đất nhất định, mà không phải gánh vác công việc chung (việc mường). Các chức dịch thì tùy theo ngôi thứ, cấp bậc, mà được hưởng quyền lợi, chia ruộng đất nhiều hay ít khác nhau, do bộ máy phong kiến thống trị, bọn quan lại, chúa đất, chức dịch dùng quyền hành lũng đoạn, chiếm giữ hầu hết cả một vùng đất rộng lớn.

Do những quan hệ ruộng đất nói ở trên, đã dẫn đến sự phân hóa giai cấp người giầu kẻ nghèo một cách sâu sắc trong xã hội Thái, được chia ra làm hai tầng lớp giai cấp phong kiến và giai cấp nông dân. Giai cấp phong kiến bao gồm chúa đất, dòng họ chúa và các chức dịch thượng đẳng. Giai cấp nông dân bao gồm những người dân tự đo (Páy) những người ngụ cư, người cùng dòng tộc hay khác tộc, đã được chúa và các chức dịch dung nạp thì không có quyền ''công dân'' (cuộng, nhọc, pha) và những người gia nô (côn hươn) - những người đó dưới chế độ phong kiến cho họ là đã mất quyền ''làm người'' phải đi nương nhờ nhà chúa.

Dòng họ người Thái cũng được phân chia ra làm ba loại quý tộc có đẳng cấp như sau: Họ Cầm họ Sa họ Bắc, họ Dẻo họ Sầm; một loại họ nữa không phải là dòng họ quý tộc, chỉ là người Thái gốc sau này do làm ăn ảnh hưởng có vị trí trong xã hội mà trở thành quý tộc như họ Hùn, họ Vi, họ Mứa, họ quàng; một số loại họ nữa cũng là gốc dân Thái như họ Lò, họ Lộc, họ Lự, họ Cà, họ Tòng, họ Nguyên và họ Phùng v.v. . .

Tuy gia đình người Thái là gia đình mang tính chất phụ quyền, nhưng quan hệ vợ chồng ở mỗi gia đình bao giờ cũng sống hòa thuận, bình đẳng thương yêu lẫn nhau, bố mẹ thương yêu và chăm sóc dạy bảo con cái, con cái có bổn phận kính trọng, nghe theo lời cha mẹ, ít khi thấy xảy ra bất hòa, mâu thuẫn ở gia đình người Thái. Trong làng ngoài bản khắp mường đều có tinh thần hợp tác tương trợ giúp đỡ nhau. Người Thái sống chân tình cởi mở và hiếu khách.

Người Thái là một dân tộc sớm có chữ viết vào khoảng thể kỷ V hoặc thứ VI. Văn học nghệ thuật, kho tàng văn nghệ dân gian rất phong phú, có nhiều hình thức thể loại, đến nay còn tìm thấy nhiều bộ sử dày hàng nghìn trang, được viết trên giấy bản. Những sách viết về giáo dục đạo đức luân lý, tôn giáo truyện kể văn học cổ truyền, truyện thơ nổi tiếng của ngươi Thái là: Tiễn dặn người yêu, truyện tình có Chàng Lú và nàng Ưa là mối tình thủy chung say đắm nhưng vì chế độ phản kiến nhiều hủ tục lễ giáo nên họ không lấy được nhau, tình yêu tan vở.

Người Thái là một dân tộc rất yêu ca hát, nhiều điệu múa xòe Thái, có các loại sáo lam, ống tiêu, có hát thơ đối đáp nam nữ giao duyên v.v...

Người Thái ngày nay đã có nhiều sự thay đổi to lớn. Đảng và Bác Hồ đã đem lại cuộc sống cho họ, từ cuộc đời nghèo khó bị áp bức bóc lột, nay đã có cuộc sống ấm no hạnh phúc, con em của họ được đến trường đi học. Người Thái đã xóa được nạn mù chữ, giảm được đói nghèo lạc hậu. Có đông đảo đội ngũ tri thức kỹ sư, nhà nghiên cứu, giáo viên là ngươi dân tộc Thái góp phần làm thay đổi xã hội Thái, với các dự án phục vụ cho đời sống kinh tế, xã hội cho miền núi Tây Bắc, đã và đang thực hiện những chương trình, đề án có tính khả thi. Người Thái đang từng bước vươn lên mạnh mẽ làm chủ lấy quê hương của mình, xứng đáng là niềm tin cậy của nhân dân cả nước, là nơi biên cương tuyến dầu của Tổ quốc. Người Thái mãi mãi giữ trọn niềm tin yêu với quê hương đất nước Việt Nam.


Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 13:48 21/02/2011
Số lượt xem: 842
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến