DÂN TỘC SÁN CHAY
|
DÂN TỘC SÁN CHAY Người Sán Chay là quần thể cư dân nông nghiệp làm lúa nước, tập trung chủ yếu ở vùng trung du Nam Bộ, cư trú đông nhất ở các tỉnh: Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn. Tổ tiên của người Sán Chay xưa kia là vùng giáp ranh giữa các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Hồ Nam, Trung Quốc. Do những biến động về lịch sử họ đã di cư đến nước ta vào khoảng thế kỷ thứ XVIII. Người Sán Chay có các nhóm địa phương, nhóm Cao Lan nói ngôn ngữ Tày, Thái và nhóm Sán Chỉ nói thổ ngữ Hán, Quảng Đông. Người Sán Chay còn có tên gọi khác như: Hờn, Bán Chùng, Trại. Còn Sán Chay là tên tự gọi với dân số khoảng 124119 người. Tiếng nói Cao Lan thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, ngữ hệ (Thái - Ka Đai), còn tiếng Sán chỉ thuộc ngôn ngữ Hán (ngữ hệ Hán - Tăng). Do có tình trạng song ngữ này mà có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của người Sán Chay, căn cứ vào những tài liệu dân tộc học trong những năm gần đây có đủ độ tin cậy họ là một dân tộc, cả hai nhóm Cao Lan và Sán Chỉ đều tự gọi mình là Sán Chay. Ngoài ra nhóm Cao Lan còn có tên gọi khác: Hờn, Bản, Chùng, rõ ràng những tên gọi này đã phản ánh nguồn gốc giữa họ với dân tộc Tày, Nùng. Người Sán Chay sống định cư, làm lúa nước rất thành thạo, phương thức canh tác của họ rất giống với một số dân tộc anh em ở vùng lân cận như: Người Việt, người Tày, người Nùng và người Hoa. Ngoài ruộng nước để cấy lúa, nương rẫy cũng giữ lột vai trò quan trọng trong đời sống người Sán Chay. Nơi cư trú của người Sán Chay là bản, mỗi bản có từ 20 đến 30 nóc nhà Ngôi nhà truyền thống của người Sán Chay là nhà sàn, gần giống kiểu nhà của người Tày, trong vòng hơn 10 năm trở lại đây các bản ở đan xen gần với người Việt cho nên nhà của người Sán Chay cũng làm theo kiểu ''nhà đất'' của người Việt. Với xu thế gia tăng ngày càng phát triển, dù ở nhà sàn hay nhà đất, cách bố trí nội thất đều có nét cơ bản thống nhất, chỗ để thờ ''hương hỏa'' là nơi linh thiêng nhất của mỗi gia đình. Thùng cám là nơi thờ thần chăn nuôi đặt ở chân cột chính cạnh cửa ra vào được tượng trưng như dạ dày của trâu thần, ngôi nhà là biểu tượng cho trang phục của người Sán Chay. Thuở xưa người Sán Chay sống dưới chế độ nửa thuộc địa, nửa phong kiến. Ở một số vùng nơi cư trú, sinh sống người Sán Chay bị bọn thực dân Pháp tước đoạt ruộng đất để lập đồn điền, bắt họ phải vào làm tá điền, làm phu, làm tạp dịch để bóc lột nhân công. Tại nhiều bản ruộng đất, nương rẫy trong một thời gian đã biến thành tư bản hoá, những cánh đồng màu mỡ lúa tốt bời bời, những thửa ruộng trên nương ngô sắn xanh biếc, đã dần dần trở thành tài sản riêng của các ông chủ giàu có. Xã hội đã có sự phân hoá giai cấp, hình thành một giai cấp có thành phần địa chủ, phú nông và những tầng lớp nông dân nghèo. Ở mỗi địa phương, bọn thực dân Pháp lại đặt ra những chức quan lại để cai trị khác nhau như: Quản mản, tài cha, quan lãnh. . . Những chức vụ này đều do những bọn có máu mặt giàu có nhất trong vùng thâu tóm, đè nén, bóc lột để làm giàu. Mặc dầu bị bọn phong kiến, quan lại dùng quyền hành cai trị, người Sán Chay vẫn đấu tranh để không mất đi những tập tục trong xã hội cổ truyền, thí dụ tất cả khu rừng bao gồm đất đai, dòng sông, con suối đã thuộc quyền quản lý sử dụng chung của bản nào thì vẫn thuộc quyền của bản đó. Trong thực tế các gia đình là thành viên trong bản được khai thác các nguồn lộc thiên nhiên trong khu vực của bản mình, song do tình trạng chiếm hữu ruộng đất về tay tư nhân đã ảnh hưởng đến phạm vi khai thác sau này cũng bị thu hẹp. Chế độ thực dân phong kiến chúng đẻ ra bộ máy và những tổ chức cai trị phục vụ cho chúng, lập ra mỗi bản có một người đứng đầu (gọi là khán thủ) thường là một già có uy tín đo bản bầu ra. Sán thủ là người hướng dẫn việc làm ăn, sản xuất, gieo trồng, sinh hoạt, quan hệ với các chức danh ở địa phương, phụ trách cả công việc cúng bái cho bản, vậy khán thủ không phải là quan chức, cũng chẳng có bổng lộc gì, chỉ có chức dân cử, đời sống không hơn gì những người dân trong bản. Trong cộng đồng của người Sán Chay có nhiều dòng họ như: Họ Hoàng, họ Trần, họ La, họ Lý, họ Ninh. Mỗi họ chia thành nhiều ngành, nhiều hay ít phụ thuộc vào thần đỡ đầu như. Quan âm, Ngọc Hoàng, Bạch Phạm, Mạng Văn, Nam Hỏa, Ôn Vương,. . . Trong tam giáo, các ngành khác nhau không chỉ về tên gọi mà còn khác cả lễ nghi, kiêng kỵ, thành viên trong ngành lập thành một nhóm ''hương hỏa'' có các nguyên tắc không được kết hôn với nhau mặc dù họ cách nhau bao nhiêu đời. Hôn nhân trong xã hội người Sán Chay là hôn nhân một vợ một chồng, trai gái đến tuổi trưởng thành được tự do lựa chọn người mình yêu, không có các yếu tố bắt buộc. Nghi thức tổ chức hôn lễ gồm nhiều bước phức tạp, từ lúc đưa dâu đến lúc đón dâu, quan lang làm phép thuật, để giữ vía cho những người đi đưa đón dâu trên đường được an toàn. Tới nhà trai, quan lang và hai cô gái đón đâu pá chíp hay bá mè cầm dao dọn đường cho cô dâu, đem từ nhà trai về hai ống nước đầy và một bó củi để tượng trưng cho sự phục tùng của cô dâu đối với cha mẹ chồng. Tập quán cổ truyền của người Sán Chay rất quý trọng ông mối, người chủ lễ tơ hồng (Chăm láu phép dinh Slay) cho cặp vợ chồng trẻ trong ngày cưới. ông mối được vợ chồng họ coi như bố mẹ, khi sống phải thăm nom, biếu xén, chăm sóc, lúc chết phải để tang. Sau ngày cưới, cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ của mình, tới khi nào có con mới được trở về ở hẳn nhà chồng. Gia đình người Sán Chay là một gia đình nhỏ phụ quyền. Người đàn ông là người chỉ đạo công việc làm ăn, với sự tham gia góp ý kiến của các thành viên trong gia đình đã trưởng thành. Mỗi người làm công việc khác nhau tuỳ theo giới tính và tính chất công việc. Đàn ông bao giờ cũng gánh vác công việc khó khăn nặng nhọc, phụ nữ thì làm việc nhẹ, đảm nhiệm việc nuôi con, nấu ăn, nội trợ, quản lý tiền bạc và chi tiêu. Quyền được thừa kế tài sản chỉ phụ thuộc vào những người con trai. Do bị ảnh hưởng nhiều của lễ giáo phong kiến, người phụ nữ Sán Chay bị mất quyền bình đẳng đối với nam giới trong gia đình cũng như ở ngoài xã hội. Trong cộng đồng người Sán Chay có nhiều nghi lễ như việc cưới, việc tang, sinh đẻ, còn nhiều phong tục in sâu những tập quán cũ, như nhà có người sinh đẻ phải kiêng kỵ trong vòng 40 ngày, không cho người lạ vào nhà, nếu người nào vô ý vi phạm, không may cho cháu bé bị ốm đau, thì người đó phải chi phí làm lễ, giữ vía cho cháu bé. Khi sinh được ba ngày, bố mẹ phải làm lễ ba mai cho con, mời những người thân thiết trong gia đình tới dự, khi đi có đem theo ít tiền và quà cáp để mừng cháu bé hay ăn, chóng lớn trở thành người của bản, của cả cộng đồng người Sán Chay. Tang lễ của người Sán Chay vẫn theo nghi thức của tam giáo, đặc biệt là Đạo giáo, Phật giáo, như lễ khâm liệm, lễ phá ngục, lễ tế rượu, do thầy tào chủ trì, trong đó nổi bật là ngôi nhà táng, làm rất công phu trang trí đường nét đẹp đẽ. Người Sán Chay có cả một kho tàng truyện cổ tích, thơ ca hò vè, tục ngữ, ngạn ngữ, dân ca. . . Có nội dung phản ánh toàn bộ cuộc sống, lao động, sản xuất chống thiên tai, thú dữ, chống giặc ngoại xâm. Các mối quan hệ của con người với tự nhiên, xã hội, mô tả về thế giới vũ trụ nhân sinh quan, tinh thần nhân ái và đôn hậu của con người, rất phong phú, đặc sắc. Đặc biệt hơn là giai diệu hát dân ca (sình ca) giàu chất thơ, chất trữ tình như một lời nỉ non, làm xao động lòng người mà đằm thắm, thiết tha, nhất là vào những đêm trăng sáng, những tháng nông nhàn, nam nữ thanh niên và những ai yêu thích ca hát có thể hát thâu đêm đến sáng, làm cho họ càng thêm yêu cuộc sống hơn, hăng say lao động và yêu quý bản mường. Múa và nhạc là hai thể loại cũng được phát triển mạnh mẽ, múa ''xúc tiếp'' (sọc còng) múa chim gàu (lòng rộc lau) vào những dịp lễ hội là có dịp sinh hoạt văn hoá văn nghệ, hát giao duyên nam nữ sình ca, có hai loại hát ở trong bản về ban đêm, một loại sình ca nữa là hát trên đường đi hoặc hát ở chợ. Người Sán Chay đã có công lao to lớn trong việc khai khẩn miền trung du, góp phần đấu tranh cho sự nghiệp giải phóng đất nước, trong công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam. |
Nguyễn Hải @ 13:49 21/02/2011
Số lượt xem: 1020
- DÂN TỘC NÙNG (21/02/11)
- DÂN TỘC THÁI (21/02/11)
- DÂN TỘC TÀY (21/02/11)
- DÂN TỘC RƠ MĂM (21/02/11)
- DÂN TỘC RƠ MĂM (21/02/11)
Các ý kiến mới nhất