Gốc > Đất nước Việt Nam > Nếp sống văn hóa Việt > Văn hóa các Dân tộc Việt Nam >

DÂN TỘC LỰ

DÂN TỘC LỰ

Người Lự sinh sống ở nước ta tập trung ở các xã Ban Hon, Bình Lư, Na Cầm huyện Phong Thổ; Ma Quai, Nậm Tâm huyện Sìn Hồ thuộc tỉnh Lai Châu và một số ít sống rải rác xen kẽ với người Thái ở thành phố Điện Biên, còn đa số người Lự ở vùng Xếp Xoong, Păn Na tỉnh Vân Nam, Trung Quốc, vùng Chiếng Rãi - Chiếng May, Thái Lan, vùng Thượng Lào và Miến Diện (Mên Ma).

Lự là tên gọi một số dân tộc ở vùng Tây Bắc, gọi họ là Tháy U, Tháy Sin, Tháy Hung (cách gọi theo tên bản mà người Lự sinh sống hiện nay, hoặc tên bản trước kia mà người Lự cư trú).

Người Miến (Mến Ma) gọi người Lự là Nguồn (Duồn) còn ở Lào người Lự được xếp vào nhóm Lào Lùm, để phân biệt người Lự với các dân tộc trong nhóm Lào Lùm. Một số nơi người ta gọi họ là Lào Lự, hoặc Tháy Lự, người Hán ở Trung Quốc xếp họ vào nhóm cộng đồng Pa Di (phiên âm tiếng Việt là Bạch Di) là tên người Hán gọi chung cho tất cả các cư dân Thái Vân Nam.

Xưa người Lự vào Việt Nam thuộc tỉnh Điện Biên ngày nay nằm trong cộng đồng Bạch Y từ thế kỷ thứ XI đến thế kỷ thứ XII. Khi người Thái Đen đặt chân lên tới vùng này đã thấy có mặt người Lự với dân số khoảng 3.746 người, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Đai).

Người Lự là một cư dân có nền kinh tế làm ruộng nước, sống định cư rất ổn định, có tổ chức xã hội phát triển, họ đã dựng được thành Xam Mứn (Tam Vạn) nổi tiếng để thờ Phật. Dân số trước đây người Lự còn ít phải sống phụ thuộc vào phong kiến Thái Trắng, nên phần nào bị ảnh hưởng về mặt văn hóa, đời sống bị suy thoái đi ít nhiều.

Nhưng phong tục truyền thống, bản sắc văn hóa tinh thần dân tộc họ không hề bị mất đi, mà còn giữ gìn phát huy một cách nguyên vẹn cho đến tận ngày nay như: Kỹ thuật canh tác ruộng nước, nghề làm thủ công phụ giúp cho gia đình khá phổ biến, nền kinh tế của người Lự mang tính tự cung tự cấp.

Người Lự thường đào mương xung quanh các thửa ruộng đề phòng trâu bò phá hoại mùa màng, vừa lấy đất đắp bờ cao giữ nước. Người Lự có phương thức canh tác cày một lần, bừa hai lần, khi cấy cắm mạ xuống ruộng (cấy chay) không làm cỏ phân, họ cấy hai lần, lần đầu nhổ mạ đem dậm từng khóm xuống ruộng, khoảng mười đến mười lăm ngày sau mới đem lấy chính thức. Theo kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp của người Lự cho biết, thì làm như vậy cây lúa sẽ sinh trưởng nhanh hơn và cho năng suất cao.

Trên ruộng nương thì trồng khoai, sắn, bông, chàm, ngoài vườn trồng các loại rau bầu, bí, có một số nơi đã làm phân xanh, tận dụng phân chuồng, rác rưởi để chăm bón đồng ruộng đạt được kết quả rất tốt, cung cấp đủ nguồn lương thực cho bữa ăn hàng ngày. Trong xã hội của người Lự có sự phân công sắp xếp lao động một cách hợp lý. Nam giới làm công việc nặng như cày bừa, nhổ mạ, đập lúa phát nương đến rẫy. Phụ nữ được làm những công việc nhẹ hơn như: Đi cấy, vào rừng, hái lượm, kiếm củi, lấy nước, kéo sợi, dệt vải. Ngoài cây lúa nước, người Lự còn trồng lúa nương, nhưng diện tích cấy lúa nương ít hơn so với diện tích cấy cây lúa nước. Ngô là cây lương thực quan trọng giữ vị trí thứ hai sau cây lúa, ngoài việc sử dụng để ăn còn dùng để chăn nuôi. Trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, người Lự ăn cơm nếp nhiều hơn ăn cơm gạo tẻ (họ rất ít khi ăn cơm gạo tẻ), thường hay ăn ngô thích ăn hầu như các món ăn nào cũng đều có ớt, món cá giữ vị trí quan trọng trong mỗi bữa ăn, còn thịt thường chỉ dùng trong những ngày lễ, hay những khi đãi khách. Người Lự ăn ba bữa trong một ngày.

Nền kinh tế phát triển có tính chất tự cung tự cấp đã tạo điều kiện thuận lợi cho xu hướng đẩy mạnh nghề phụ ở mỗi gia đình như kéo sợi dệt vải, may mặc, thêu quân áo. Mỗi gia đình người Lự thường có từ hai đến ba khung dệt. Nghề săn bắn thú rừng từ lâu đã không còn giữ một vai trò chủ yếu của nền kinh tế, như trước kia họ chỉ săn bắn những con thú lớn như: Hổ, hươu, nai, lợn rừng, mỗi khi di săn họ tổ chức săn tập thể là hình thức phổ biến. Nghề săn bắn ngày nay hầu như đã bỏ hẳn, vì sự nghiệp bảo vệ thú rừng, bảo vệ tài nguyên môi trường, ngược lại nghề đánh bắt cá đang phát triển ở những vùng gần sông suối.

Bản của người Lự rất giống với bản của người Thái, bản của người Lào. Ở những nơi đất bằng phẳng, gần nguồn nước, mỗi bản có từ 30 đến 40 hộ, cũng có bản số hộ đông lên tới 60, 70 hộ như bản Hon ở huyện Phong Thổ (Lai Châu). Ngôi nhà truyền thống của người Lự là nhà sàn (hươu), nhà có hai mái lợp bằng gianh, mái phía sau ngắn hơn mái phía trước, mái  phía trước kéo dài xuống che kín hàng hiên của sàn, còn làm nhiệm vụ che hết bậc cầu thang lên xuống. Nhà của người Lào chỉ làm có một cửa ra vào, hướng về phía Tây Bắc, trong nhà ngăn một bên làm buồng ngủ. Bố mẹ được ngủ gần bàn thờ thần nhà (thê và đa hươn), sau đó là lần lượt đến các con, con trưởng, con thứ... con gái chưa chồng ngủ ngoài cùng. Trong nhà có hai bếp, một để nấu ăn hàng ngày, một để nấu nước khi có khách đến chơi nhà, dùng nước đun sôi để nấu nước chè tươi, cùng với chiếc điếu hút thuốc lào để tỏ lòng mến khách.

Phụ nữ mặc váy thêu, áo xệ ngực có đính nhiều trang sức. Nam giới cũng mặc quần thêu đeo vòng tay. Thời xưa nam giới để tóc dài, xăm mình, xâu lỗ tai và nhuộm răng đen.

Xưa kia xã hội người Lự phải sống trong chế dộ thực dân nửa phong kiến, cũng giống như nhiều dân tộc ít người khác sống ở miền Tây Bắc nước ta, trực tiếp bị bọn quý tộc phong kiến người Thái thống trị, bọn phìa tạo coi người Lự là ''nhốc'', chúng bóc lột bằng nhiều hình thức lao dịch và cống nạp làm nô lệ, song lao dịch vẫn là chủ yếu. Hàng năm mỗi gia đình người Lự phải đi làm lao dịch không công cho bọn phìa tạo ít nhất cũng phải là bốn tháng như: làm đường, đào mương đắp phai v.v...

Chưa kể đến việc người Lự luôn luôn phải biếu xén, cống nạp những lâm thổ sản quý, những sản vật làm ra, hoặc thịt thú rừng đi săn bắn được. Nói chung xã hội người Lự bị sống phụ thuộc vào bọn quý tộc phong kiến người Thái chi phối, cùng với bọn chúa đất cai quản cả một vùng lãnh địa rộng lớn, cho nên xã hội người Lự chỉ phân hóa thành hai lớp người, lớp người giầu là những gia đình chức dịch có nhiều ao động, gia đình nghèo thường là gia đình neo đơn, có ít lao động, chính vì vậy mà xã hội người Lự chưa có sự phân hóa sâu sắc, chưa xuất hiện thành phần địa chủ phú nông, vì trong xã hội người Lự ruộng công được chia đều cho các thành viên trong bản.

Gia đình người Lự được thiết lập trong quan hệ phụ quyền, là gia đình nhỏ gồm có chồng, vợ các con đôi khi cũng có cả cha mẹ chồng. Người chủ gia đình là người bố hoặc anh cả, có quyền quyết định mọi công việc, được quyền sở hữu toàn bộ tài sản. Chỉ có những người đàn ông mới có quyền tham gia hội họp, bàn bạc những công việc của bản. Người phụ nữ trong gia đình và quan hệ xã hội, không có quyền năng gì. Mọi quan hệ trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình của người Lự ảnh hưởng nhiều của Phật giáo, với những phong tục cổ truyền từ rất xa xưa Nam nữ khi kết hôn, nhất thiết phải có sự đồng ý của cha mẹ phải qua thầy cúng của bản (chẩu hô) xem tướng số tính tuổi cho lứa đôi, có hợp nhau hay không, nếu thầy cúng “phán'' họ không hợp duyên, hợp tuổi, thì đám cưới sẽ không được tổ chức, đôi lứa phải chia tay không ai được cưỡng lại số mệnh.

Khi cưới, lễ ở rể chỉ tiến hành sau lễ hỏi 1 ngày, nhưng không quá ba, bốn tháng. Lễ ở rể chỉ tiến hành làm hàng năm có ba tháng, từ tháng 10 tháng 11 và tháng 12. Lục có nghĩa là sáu phải trải qua sáu vụ thu hoạch lúa mùa, cưới xong chú rể phải đến ở nhà bố mẹ vợ từ ba đến năm năm, có khi tám năm đến mười năm hoặc lâu hơn, tùy theo hoàn cảnh của gia đình bố mẹ vợ (neo đơn có ít lao động). Cũng có trường hợp chú rể ở với mỗi bên cha mẹ ba năm, rồi vợ chồng ra ở riêng. Trong thời gian dó, chú rể phải đảm nhiệm nhiều công việc bên gia đình vợ. Nếu sinh con trong thời gian này, cũng không làm giảm thời hạn ở rể, ngược lại trong thời gian ở rể, người vợ chưa sinh con thì phải kéo dài thời hạn ở rể. 

Trong gia đình người Lự sống êm thấm hòa thuận, ít có trường hợp ly hôn. Theo tập tục, gái bỏ chồng thì bản phạt trâu, trai bỏ vợ thì bản phạt bò, nhưng vợ chồng cũng có thể được ly hôn, nếu cả hai bên đều đồng ý thuận tình, thì tài sản chung của vợ chồng dược chia đôi.

Người Lự có họ và tên. Tên đệm chỉ giới tính như những họ chủ yếu (Vàng, Tào, Lò) từ lâu vẫn không thay đổi, truyền từ đời này qua đời khác, tên đệm chỉ giới tính của nam là ''hạ'', của nữ là ''ý''. Người Lự xem tên như là bộ phận hữu cơ của con người, tên thay đổi cùng với những biến cố lớn của con người, tên đầu tiên thường là tên gọi âu yếm, hay nó phù hợp với một đặc tính nào đó, tên cũng có thay đổi sau một cơn bệnh nặng, trong trường hợp bất hạnh v.v... để đánh lừa thần theo quan niệm của người Lự, còn tên đệm chỉ giới tính không bao giờ thay đổi.

Xã hội của người Lự tồn tại hai hình thức tín ngưỡng chủ nghĩa đa thần và dạo Phật. Hệ thống quan niệm đa thần là phản ánh thế giới hư ảo bao quanh, mà trong đó có con người sống phụ thuộc, còn đối với đạo Phật xác định chỗ đứng của con người trong thế giới, hiện tại và tương lai. Người Lự tin rằng: Mỗi vật, mỗi cơ thể sống ở trong mỗi con người, trong nhà, dưới nước, trên trời, đều có các siêu linh có hai loại, loại tốt bảo hộ con người, cũng có loại xấu chuyên làm hại con người như ma bản (Phí bản) là ma những người lập bản đầu tiên, nhà cúng ma bản được dựng ở đầu làng hay trong khu rừng già. Mỗi năm người Lự chỉ tổ chức cúng ma bản một lần. Ma mường (Phí mường) là ma lớn nhất trong cuộc sống của người Lự, là ma của những người có công trong việc lập bản, đánh đuổi kẻ thù đến quấy rối cuộc sống bình yên của bản.

Trong mỗi gia đình của người Lự đều có ma nhà (gần giống với ma nhà của người Thái, người Lào), ''phù hộ'' cho các thành viên trong gia đình được mạnh khỏe và mọi sự được tết lành, bảo vệ nhà khỏi bị trộm cắp hỏa hoạn. Loại ma ác thì gây nên những căn bệnh hiểm nghèo, có khi gây cả cái chết cho con người. Ma ác còn làm cháy nhà, phá hoại mùa màng, gợi lên những ý nghĩ không tốt, xô đẩy con người đến chỗ tội lỗi. Từ đầu thiên niên kỷ thứ hai, sau Công nguyên, đạo Phật đã phần nào ảnh hưởng đến vùng cư trú của người Lự, hòa lẫn với tín ngưỡng và luân lý cổ truyền của địa phương.

Trong cộng đồng của người Lự ở mỗi bản sẽ do nại bản đứng đầu, có nhiệm vụ đôn đốc dân bản nộp sản vật, và đi làm lao dịch cho chúa đất. Người Thái, các nại bản hầu hết có sự liên kết với nhau bằng hôn nhân để duy trì chức dịch đứng đầu bản, cha truyền con nối độc quyền này. Gia đình nại bản thường giầu có đông đúc, có ruộng tư (không nhận ruộng gánh vác của chúa đất Thái). Họ cũng lợi dụng khi dân bản nhờ cậy để được biếu xén, hoặc đến làm ruộng cho nại bản không công.

Người Lự có một nền văn hóa nghệ thuật dân gian khá độc đáo, các bài hát dân ca, truyện kể, tục ngữ thơ ca, các câu chuyện kể về lịch sử của dân tộc cũng như các nhân vật lịch của cha ông thuở trước đánh giặc giữ bản, giữ mường bảo vệ quê hương đất nước để giáo dục lớp con cháu ngày nay, phát huy truyền thống của dân tộc ra sức bảo vệ miền biên cương Tổ quốc.

Giờ đây, trong các ngày hội hay mỗi độ xuân về, tiếng hát dân ca Lự theo điệu khắp, lại vang lên xen lẫn những loại nhạc cụ truyền thống, sáo, nhị, trống cứ ngân xa mãi theo lời hát của các chàng trai và cô gái Lự.

Người Lự đóng góp nhiều vào sự nghiệp bảo vệ an ninh chính trị ở vùng biên giới Bình Lư và Phong Thổ, góp phần xứng đáng vào công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người Lự rất yêu quê hương Tổ quốc Việt Nam của mình, một lòng tin yêu Đảng, tin yêu Bác Hồ đã cho họ có cuộc sống mới hôm nay.



Nhắn tin cho tác giả
Nguyễn Hải @ 13:51 21/02/2011
Số lượt xem: 1240
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến