DÂN TỘC CỜ LAO
DÂN TỘC CỜ LAO
Người Cờ Lao cư trú ở nước ta tập trung chủ yếu ở các huyện Đồng Văn, Hoàng Su Phì, ngoài ra còn một bộ phận ở rải rác trong các huyện Mèo Vạc, Yên Minh, Quản Bạ, tỉnh Hà Giang. Người Cờ Lao có ba nhóm là Cờ Lao Đỏ, Cờ Lao Trắng và Cờ Lao Xanh. Cờ Lao từ lâu đã là tên gọi phổ biến cho một tộc danh, ba nhóm Cờ Lao cũng có tên tự gọi khác nhau: Vào Đồ (Cờ Lao Đỏ), Tứ Trữ (Cờ Lao Trắng), Ho Kỳ (Cờ Lao Xanh).
Hiện nay có một nửa dân số người Cờ Lao bao gồm nhóm Cờ Lao Đỏ và nhóm người Cờ Lao Xanh không còn nói được tiếng mẹ đẻ, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai, cùng nhóm với tiếng La Ha, La Chí, Cờ Lao (ngữ hệ Thái - Ka Đai) với dân số khoảng 1.542 người.
Người Cờ Lao do phải sống dưới tầng áp bức của bọn phong kiến triều đình Mãn Thanh (Trung Quốc), để mau chóng thoát ra khỏi cảnh áp bức bóc lột đó, có một bộ phận người Cờ Lao phải di cư đến Việt Nam tìm một vùng đất mới sinh cơ lập nghiệp khoảng từ cuối thế kỷ XVIII đến nửa dầu thế kỷ thứ XIX cùng thời với các dân di cư của người Hmông, họ đã sang định cư ở nước ta, cùng sinh sống với nhiều dân tộc anh em khác.
Nguồn sống chính của người Cờ Lao là làm nương, cày và thổ canh hốc đá. Ngô là cây lương thực chính, ngoài ra còn trồng giống đậu răng ngựa, lúa mạch, dậu Hoà Lan, su hào và nhiều loại rau xanh khác. Người Cờ Lao còn sớm biết cách ủ phân và sử dụng phân bón trên nương. Trước kia, họ có thói quen dùng phân chuồng (lợn, gà, bò, ngựa), tro bếp, ngày nay nhờ áp dụng thêm phân khoa học kỹ thuật trong canh tác, đã sử dụng thêm phân hóa học, tận dụng một cách tối đa có hiệu quả Người Cờ Lao ở vùng huyện Hoàng Su Phì chuyên làm ruộng bậc thang. Cùng với việc trồng các cây lương thực, họ còn trồng chè đem lại giá trị kinh tế đáng kể cho mỗi gia đình.
Nghề thủ công truyền thống phổ biến và nổi tiếng của người Cờ Lao là đan mây, tre làm đồ gỗ, những dụng cụ dùng trong gia đình như đan phên, đan cót, làm những chiếc nong, chiếc nia, chiếc bồ rất khéo tay, tự tạo ra sản phẩm bằng gỗ như bàn ghế, hòm, yên ngựa, quan tài v.v... nghề rèn cũng phát triển. Ở thôn nào cũng có người làm sửa chữa dao, cuốc ,cày, bừa có tính chất phục vụ cho nhu cầu sản xuất, tự cung tự cấp, tự sản tự tiêu, chứ chưa có ý nghĩa là sản xuất hàng hoá.
Đặc điểm địa hình cư trú của người Cờ Lao là ở trên sườn núi cao dốc đá tai mèo, giống như người Hmông hoặc ở ven sườn núi đất như người Dao. Họ sống định cư thành làng bản, có từ 15 đến 20 nóc nhà. Nhà ở là kiểu nhà đất truyền thống có một gian hai chái, mái lợp bằng cỏ tranh hoặc bằng phên nứa, vách nhà bưng ván hay tấm liếp. Riêng đối với nhóm người Cờ Lao Đỏ. khi làm nhà trình tường đất.
Trang phục của phụ nữ Cờ Lao, mặc áo giống với áo của phụ nữ người Giấy nhưng vạt áo dài đến tận đầu gối, phần trên để hở ngực, tay áo có đắp những miếng vải màu, theo trang Phục truyền thống trước kia của hai nhóm Cờ Lao Trắng và Cờ Lao Xanh. Người phụ nữ mặc hai áo, áo ở ngoài tay ngắn hơn áo ở trong, để làm lộ những miếng vải màu đắp trên tay áo trong. Hiện nay chỉ còn lại một số bà già nhóm Cờ Lao Đỏ là mặc váy, còn nhìn chung các nhóm Cờ Lao phụ nữ đều là mặc quần.
Mỗi nhóm Cờ Lao lại có những dòng họ khác nhau, người cờ Lao Trắng có các họ như: Vần, Hố, Sểnh, Chảo; người Cờ Lao Xanh có họ Sán, người Cờ Lao Đỏ có họ Min, Các, Sú, Chéng, Hảo; người Cờ Lao Xanh cư trú ở huyện Đồng Văn còn thêm họ Lý.
Theo phong tục của người Cờ Lao, người trong họ cấm không được lấy nhau, việc lấy đổi mang tính chất "hòn đất ném đi, hòn trì ném lại" có thể chấp nhận giữa các gia đình với nhau. Quan hệ hôn nhân giữa con cô con cậu được chấp nhận ở cả hai phía, con trai của cô có thể lấy con gái cậu, ngược lại con trai của cậu có thể lấy con gái của cô. Phong tục của người Cờ Lao cho phép khi anh chết em được lấy chị dâu, xưa kia tục lệ này có tính chất bắt buộc vì nó có liên quan đến việc phân chia, kế thừa quyền sở hữu tài sản.
Theo phong tục cổ truyền của người Cờ Lao xưa kia còn tồn tại tục "kéo vợ” hay "cướp vợ''. Cô dâu nhóm Cờ Lao Đỏ chỉ ở lại nhà chồng đêm hôm cưới, sáng hôm sau phải trở về nhà bố mẹ đẻ và cứ sang một năm ở đó không về nhà chồng, còn người chồng thỉnh thoảng mới sang nhà bên vợ, ở vài ba ngày đó là một hiện tượng của tàn dư hôn nhân cư trú nhà bên vợ, còn sót lại đến ngày nay.
Khi cháu bé sơ sinh mới ra đời, người Cờ Lao có tục lấy nhau (rau) đem đặt thành tro than bỏ vào hốc đá trong rừng, áp dụng đối với con trai sau ba ngày ba đêm, đối với con gái chỉ có sau hai ngày ba đêm, thì bố mẹ được làm lễ đặt tên, riêng người Cờ Lao Đỏ chỉ đặt tên con khi đã đầy tháng.
Trong việc ma chay tang lễ có tục làm ma hai lần, khi mai táng và lễ làm chay, người Cờ Lao Đỏ xếp đá quanh mồ thành từng vòng, mỗi vòng tượng trưng cho 10 tuổi của người chết, rồi đắp đất lên trên phủ kín những vòng đá đó.
Người Cờ Lao thờ cúng tổ tiên từ ba đến bốn đời. Trong nhà người Cờ Lao Trắng, bàn thờ đặt ở góc trong cùng, phía bên phải có một xâu xương hàm lợn gài lên vách; còn bàn thờ của người Cờ Lao Xanh đặt ở cây cột giữa nha; bàn thờ của người Cờ Lao Đỏ thờ tổ tiên trên một giá gỗ treo trên tường ở gian giữa nhà.
Đối tượng được thờ cúng trong tín ngưỡng của mỗi gia đình người Cờ Lao là thần đất, cũng là đối tượng được thờ cúng của cả bản, ngoài ra còn thờ cúng vị thần ở trên nương (eo mèo) trên hốc đá ở chỗ cao nhất nương đặt một hòn đá có hình dáng giản dị, để làm tăng thêm vẻ linh thiêng huyền bí của chủ nương và của mỗi gia đình.
Kể từ khi có Đảng lãnh đạo và sau Cách mạng Tháng Tám, cuộc sống của cộng đồng người Cờ Lao đã có biến đổi to lớn về kinh tế, văn hoá, giáo dục và xã hội nói chung. Đảng và cách mạng đã thật sự đem lại cơm no áo ấm cho người Cờ Lao, mang lại ánh sáng về tận bản làng xa xôi, người Cờ Lao ngày nay vẫn không quên từ những năm 1960, các thầy giáo người việt, người Nùng, người Tày đã về bản của người Cờ Lao dựng tường, mở lớp học ngay trên những bản làng heo hút, dạy cho con em họ chương trình phổ thông.
Giờ đây các chương trình phát triển y tế giáo dục, chương trình xoá đói giảm nghèo đã về tới vùng sâu, vùng xa, về tới các bản của người Cờ Lao. Người Cờ Lao ngày nay cuộc sống tạm đủ ăn, đủ mặc, không còn đới rách và sống bấp bênh như trước kia, họ càng thêm yêu quý quê hương đất nước Việt Nam, nơi mà cách đây gần 200 năm tổ tiên họ đã chọn là quê hương.
Nguyễn Hải @ 13:55 21/02/2011
Số lượt xem: 3921
- DÂN TỘC PU PÉO (21/02/11)
- DÂN TỘC LA CHÍ (21/02/11)
- DÂN TỘC PÀ THẺN (21/02/11)
- DÂN TỘC DAO (21/02/11)
- DÂN TỘC HMÔNG (21/02/11)
Chào làm quen bạn Hải nhé!Mình vào trang cô Duyên tjhaays bạn nên gia nhập vào trang bạn đây.
Mình có đi qua quê bạn hè 2009 khi đi lên Sapa đó
THĂM TRANG THẦY VĂN CHẤN CUỐI TUẦN. CHÚC CUỐI TUẦN VUI VẺ

Chúc các bạn hưởng một mùa trung thuTràn đầy những niềm vui và hạnh phúc
Bên gia đình cùng những người thân yêu
Tràn đầy những niềm vui và hạnh phúc
Bên gia đình cùng những người thân yêu
Rất mong đươc làm thành viên của nhau để học hỏi
Thân tặng
Khi biết mình là cỏ
Khi biết mình là cỏ
Bước chân ra cánh đồng

Nhận thấy mình là cỏ
Giữa đất trời mênh mông
Mới hay mình bé nhỏ
Xanh một màu nhẫn nại
Không hề một sắc hoa
Vẫn trải mình lặng lẽ
Dưới những bước chân qua
Dẫu nắng hè thiêu đốt
Dẫu mưa lũ trắng trời
Dẫu bão giông chớp giật
Cỏ vẫn là cỏ thôi
Bởi biết mình là cỏ
Ngàn năm xanh một màu
Lá hướng về gió nắng
Rễ bám vào đất sâu
Biết mình là cỏ dại
Chẳng đua tranh với đời
Chẳng mơ chi cổ thụ
Chỉ xin làm cỏ thôi
http://hahuyphu.violet.vn/
Nhân ngày nhà giáo VN, em chúc thầy thật nhiều niềm vui, thật hạnh phúc và đạt nhiều thành tích xuất sắc trong sự nghiệp của mình!