DÂN TỘC DAO
DÂN TỘC DAO
Người Dao là cư dân sinh sống ở nước ta trên một địa bàn rất rộng, dọc theo biên giới Việt - Trung, biên giới Việt - Lào tiến tận miền trung du và ven biển bắc bộ. Họ ở xen kẽ với nhiều dân tộc Hmông, Thái, Tày, Mường, Việt, v.v... Xưa kia các dân tộc anh em quen gọi người Dao là Mán, nhưng nay Dao là tên gọi chính thức của một tộc danh, ngoài ra còn có những tên gọi khác: Kìm Miền, Kìm Mùn (người rừng).
Người Dao có những nhóm địa phương: Dao Đỏ, Dao Cóc Ngảng, Dao Sừng, Dao Dụ Lay (Dao Đại Bản), Dao Quần chẹt (Dao Sơn Đầu, Dao Tam Đảo, Dao Nga Hoàng, Dụ Cùn), Dao Lô Gang, Dao Thanh Phán, Dao Cóc Mùn, Dao Tiền (Dao đeo tiền, Dao Tiểu Bản), Dao Quần Trắng (Dao Họ), Dao Thanh, Dao Thanh Y, Dao Làn tẻn (Dao tuyển, Dao áo dài). Tiếng nói cuộc ngữ hệ Hông - Dao, với dân số khoảng 494.952 người.
Tổ tiên của người Dao xưa kia sinh tụ từ lưu vực sông Hoàng Giang trở xuống phía nam Trung Quốc. Người Dao có mặt ở nước ta vào giữa thế kỷ thứ XII vào những thời điểm khác nhau cho đến đầu thế kỷ XX. Ngoài các đặc điểm chung ra các nhóm người Dao về nguồn gốc, số phận lịch sử, thì mỗi nhóm Dao lại có những sắc thái riêng. Người Dao không chỉ có nhiều nhóm nhỏ, mà mỗi nhóm lại có nhiều tên gọi khác nhau, thông thường mỗi tên gọi thường bắt nguồn từ một quá khứ lịch sử.
Nguồn sống chính của người Dao là sản xuất nông nghiệp, nương rẫy, theo tập quán cổ truyền du canh, nhưng có nơi, nhất là ở vùng núi cao, người Dao lại canh tác ổn định một chỗ như ruộng nương thổ canh hốc đá. Người Dao chủ yếu canh tác nương du canh, chỉ trồng trọt từ 2 đến 3 vụ, lại bỏ đi tìm nơi khác, ruộng nước có rất ít, chỉ ở vùng thấp còn lại diện tích để trồng bông và các loại rau xanh, ngô, khoai, sắn, bầu bí, v.v...
Ngoài việc gieo trồng, người Dao còn chăn nuôi gia súc, gia cầm, vào rừng hái lượm lâm thổ sản, săn bắn, đánh bắt ven sông, ven suối, làm thêm nghề phụ gia đình, kéo sợi dệt vải, may vá lấy quần áo, dệt thổ cẩm là công việc của phụ nữ. Các làng của người Dao đều có lò rèn, để sản xuất công cụ, làm súng hoả mái, súng kíp, nghề trạm bạc, làm đồ trang sức, vòng cổ, vòng chân, vòng tay, hoa tai đạt tới trình độ kỹ thuật cao về thẩm mỹ.
Làng của người Dao dược xây dựng ở gần các con nước hoặc những nơi có nguồn nước để dẫn nước về nhà, có các loại hình nhà ở khác nhau như: Nhà đất, nhà nửa sàn nửa đất và nhà sàn. Nguyên vật liệu làm nhà bằng các loại cây rừng, tre, gỗ, buông, luồng, v.v... lợp bằng phên nứa, hoặc cỏ gianh. Người Dao có tập quán mỗi khi có gia đình dựng nhà mới người cùng làng sẽ đến tương trợ, giúp đỡ mọi công việc cho đến khi dựng xong nhà.
Đàn ông khi xưa để tóc dài, búi sau gáy, vấn khăn đầu rìu. Ngoài áo cổ truyền, người đàn ông Dao còn mặc áo cánh như nông dân người Việt. Phụ nữ người Dao ưa dùng trang sức nhẫn, vòng tay, vòng cổ và hoa tai hạt cườm, hoặc bằng ngà voi. Trang phục truyền thống của người phụ nữ Dao vẫn giữ được nét cổ truyền dân tộc như. Phụ nữ Dao Đỏ để tóc dài vấn xung quanh đầu, đội khăn bằng vải dỏ, quần áo màu chàm, nhưng có thêu nhiều loại hoa văn bằng chỉ màu đỏ là chủ yếu.
Phụ nữ người Dao Quần chẹt thì lại khác, họ cắt tóc ngắn, chải sáp ong, đội khăn màu chàm, ống quần hẹp, bó sát vào chân, chiều dài chỉ đến dầu gối. Phụ nữ Dao Lô Gang nôi chung về trang phục cũng gần giống phụ nữ quần chẹt, chỉ khác ở chiếc khăn đội đầu, vì có nhiều chiếc khăn vuông 20 cm x 20 cm chồng lên nhau, nó được giữ chắc ở trên đầu bằng chuỗi hạt cườm thuỷ tinh, nhiều màu sắc. Phụ nữ Dao Tiền cắt lóc ngắn, đội khăn dài màu chàm, thêu nhiều màu ở hai vai trước, cổ áo mở về phía sau gáy, chỗ xẻ tà có gắn mấy đồng tiền. Phụ nữ Dao Tiền mặc váy màu chàm, hoa văn ở gấu váy in màu sáp ong, đây là nét đặc trưng của họ.
Đối với trang phục của phụ nữ Dao Quần trắng, thì chiếc khăn đội đầu và chiếc yếm là hai nét nổi bật, khăn vuông thêu nhiều màu sặc sỡ, chiếc yếm to và dài che kín cả ngực đến bụng, được thêu bằng nhiều các hoa văn hoặc đất bằng nhiều màu ngang. Ngày thường vẫn mặc bộ quần áo màu chàm, trong sinh hoạt, trong lao động và giao tiếp cộng đồng, còn quần trắng chỉ được mặc khi cô dâu làm lễ cưới về nhà chồng, đó là nét đặc điểm của phụ nữ Dao Quần trắng.
Còn phụ nữ Dao Thanh Y họ để tóc dài vấn khăn trên đỉnh, đội mũ, trông xa giống như hình cái đấu, đỉnh mũ gắn ngôi sao bằng bạc, xung quanh vành mũ gắn nhiều hình vẩy đá bằng bạc. Trang phục của phụ nữ Dao áo dài tương tự giống như Dao Thanh Y chỉ có khác là cái mũ dẹt như cái đĩa, đó là đặc điểm trang phục của các nhóm phụ nữ người Dao hiện nay, đồng thời còn bảo tồn nét đẹp văn hoá truyền thống.
Dưới chế độ thực dân phong kiến xưa kia, người Dao phải sống trong cảnh nghèo nàn, lạc hậu vì điều kiện canh tác và cư trú là khác nhau. Xã hội người Dao bị kìm hãm kém phát triển, là sống có sự chênh lệch giữa các vùng, miền, giữa các nhóm người Dao với nhau. Bọn thực dân phong kiến lợi dụng chính sách "chia để trị'' rất thâm độc và tàn ác, đặt ra bộ máy cai trị người Dao để gây chia rẽ, mâu thuẫn giữa những người cùng đồng tộc với nhau, chúng chỉ cho người Dao tự quản ''tự trị” từ Cấp Châu trở xuống để làm công cụ cho chúng bóc lột.
Bên cạnh bộ máy cai trị, đế quốc, phong kiến hà khắc, xã hội Dao lại còn tồn tại một số tàn dư của tổ chức công xã nông thôn từ thời xa xưa do đó cũng làm hạn chế sự phát triển của toàn xã hội. Trong sử thi của người Dao xưa có nòi: Cộng đồng của dân tộc Dao có đến 12 họ, nhưng trong thực tế thì số họ nhiều hơn, mỗi một họ lại có những kiêng ky riêng biệt như dùng lễ vật để cúng tổ tiên cũng khác nhau, những người cùng trong họ cấm không được có quan hệ hôn nhân với nhau.
Song ngày nay, sự cấm kỵ này dã phai nhạt dần, chỉ còn cấm những người cùng một chi họ với nhau là tuyệt đối không được có quan hệ hôn nhân với nhau. Mỗi chi lại có nhiều tông tộc, đứng đầu mỗi tông tộc là tộc trưởng, có hệ thống tên đệm riêng, được sử dụng tên đệm cho mỗi chi họ như một chu kỳ khép kín.
Gia đình của người Dao là một gia đình nhỏ phụ quyền, chủ gia đình là người cha hoặc con trai trưởng ( khi cha già yếu người con này được quyết định mọi công việc trong nhà. Tuy là các thành viên khác nhau trong gia đình cũng được tham gia góp ý kiến, đề xuất những việc quan trọng như: Dựng vợ gả chồng, làm nhà mới, di chuyển chỗ ở, tìm nương rẫy mới đều sản xuất.
Xã hội truyền thống của người Dao là hôn nhân một vợ một chồng, cô dâu cư trứ hẳn bên nhà chồng. Sau khi làm lễ cưới vẫn mang màu sắc gả bán, chú rể phải ở rể có thời hạn, hoặc ở rể vĩnh viễn. Những nghi thức thủ tục từng bước diễn ra, trong hôn lễ vẫn khá phổ biến và tồn tại trong xã hội người Dao hiện nay.
Người Dao còn bị ảnh hưởng nhiều bởi tôn giáo – tín ngưỡng nguyên thuỷ, nhất là tam giáo và đạo giáo đã ảnh hưởng sâu sắc đến xã hội người Dao. Người Dao tin rằng vạn vật đều có linh hồn gọi là vần. Khi mọi thực thể bị chết (bị huỷ diệt) thì hồn lìa khỏi xác và biến thành ma. Theo quan niệm người Dao thì bất kỳ ở đâu, cả trong trời đất, vũ trụ bao la đều có hồn và ma người, cũng chia ra làm hai loại: Ma lành và ma dữ. Ma lành thì ban phúc, ma dữ thì giáng hoạ, nhưng nếu làm điều gì để ma lành phật ý thì cũng có thể bị quở trách, gặp phải những điều không hay.
Những ma lành gồm có tổ tiên, Bàn vương, ma đất, ma bếp, thần nông, Ngọc Hoàng, Thượng Đế, tam thánh. Người Dao tin rằng: Mỗi con người ta đều có 12 hồn hoặc 3 hồn 7 vía, trong số 12 hồn này thì có 1 hồn chính quyết định sự sống của con người, khi ngủ hồn thoát ra khỏi cơ thể để chu du ở thế giới bên kia, khi nằm mơ mới thấy điều kỳ diệu đó. Xuất phát từ quan niệm đó, nên người Dao tin ở những giấc mơ, giấc mộng giữa hai thế giới linh hồn và thế giới trần gian huyền ảo và hư lực luôn đảo ngược lẫn nhau. Người Dao còn tin có ma Ngọ Hải giống như ma gà, ma kỳ lân. Cũng giống như quan niệm ma người Tày, Nùng, người Dao cũng tin ở ma thuật, ma thuật phòng thủ, ma thuật làm hại, ma thuật chữa bệnh. Ngoài ra, người Dao có nhiều tín ngưỡng liên quan đến nền sản xuất nông nghiệp, thờ cúng các ma, nó đã từng đi sâu vào trong đời sống xã hội, tinh thần của người Dao ở bao đời nay, nó còn tồn tại nhiều tục lệ phức tạp.
Xưa kia người Dao mặc dầu phải sống trong điều kiện có nhiều khó khăn, vất vả nhưng vốn là dân tộc biết chịu đựng những thử thách, gian nan, rất tha thiết yêu quê hương, mảnh đất mà họ đang sinh sống, trải qua bao thế hệ, họ đã lao động, sáng tạo ra cả một kho tàng văn hoá, văn nghệ dân gian rất phong phú và đa dạng, làm giàu thêm đời sống tinh thần, thể hiện trong nhiều truyện cổ, nhiều bài hát dân ca đối đáp giữa nam và nữ. Khi ở trên nương có tiếng cô gái Dao cất lên tiếng hát: Trên đời quý nhất thứ gì? Mong anh giải đáp em thì được hay"; ở phía bên kia con suối có mấy chàng thanh niên Dao liền hát đối đáp lại: Em hỏi anh trả lời ngay: Trên đời quý nhất bàn tay cần cù''.
Tiêu biểu là truyện ''Quả bầu'' với nạn hồng thuỷ, sự tích bàn vương, rất được phổ biến. Riêng múa và nhạc cụ quy định: Phần nhiều được sử dụng cho nghi thức tôn giáo.
Cuộc sống của người Dao trước kia chẳng khác nào con chim, con nai ở trong rừng, cuộc sống du canh, du cư lang thang hết năm này đến năm khác, trong cảnh tối tăm, nghèo đói. Người phụ nữ Dao đã phải ru con bằng ai oán, nỉ non.
Người Dao là con chim xanh
Thấy quả thì ăn, thấy nước thì uống.
Tung cánh bay hết rừng này đến rừng khác.
Từ ngày có Đảng, có Cách mạng Tháng Tám mới đưa cuộc sống của người Dao thoát ra khỏi cuộc sống nghèo nàn, lạc hậu, đến nay đã có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, đã thu được nhiều thành tựu to lớn, trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng hệ thống chính trị vững chắc, phát triển kinh tế xã hội vững mạnh, đóng góp đáng kể vào phang trào giữ gìn an ninh vùng biên giới của Tổ quốc.
Nguyễn Hải @ 13:53 21/02/2011
Số lượt xem: 4836
- DÂN TỘC HMÔNG (21/02/11)
- DÂN TỘC BỐ Y (21/02/11)
- DÂN TỘC LỰ (21/02/11)
- DÂN TỘC LÀO (21/02/11)
- DÂN TỘC GIẤY (21/02/11)
Các ý kiến mới nhất