DÂN TỘC HMÔNG
Người H’mông là một trong bẩy dân tộc thiểu số có dân số tương đối đông, cư trú ở vùng miền núi phía Bắc nước ta, chứ yếu là ở các tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang, Lào Khi, Yên Bái, Lai Châu, Sơn La, Điện Biên, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thái Nguyên, Hoà Bình v.v. . .
Đặc điểm của người Hmông là cư dân sống xen kẽ với các dân tộc anh em khác, song họ vẫn quần tụ thành từng vùng nhỏ rải rác, chứ không gắn liền với nhau thành một dải, mà thường bị ngăn cách bởi nhiều khu vực cư trú của các dân tộc khác, cũng không vì thế mà làm cho quan hệ huyết thống, dòng họ, đồng tộc bị gián đoạn, xa cách, ngược lại trong quan hệ dạng họ và quan hệ hôn nhân với người đồng tộc càng trở lên gắn bó và bền vững.
Người Hmông còn có tên gọi khác như: Mẹo, Mèo, Miếu, Hạ, Mán Trắng, có các nhóm địa phương Hmông Trắng, Hmông Hoa, Hmông Đỏ, Hmông Đen, Hmông Xanh, Na Miẻo. Hmông và Na Miẻo là tên tự gọi, tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao với dân số khoảng 558.234 người.
Hmông và Na Miẻo là tên gọi có nguồn gốc lịch sử lâu đời, với tên gọi tộc danh Mèo theo âm Hán - Việt là Miêu, là tên dùng để gọi những người đã sớm biết nghề trồng lúa, ở hồ Bành Lão và hồ Động Đình, ngày nay đã trở thành tên gọi chính thức. Người Hmông ở nước ta, tổ tiên của họ khi xưa có nguồn gốc là con cháu hậu duệ của những cư dân cổ bản địa ở Nam Trung Quốc. Sự gần gũi giữa tiếng Hmông và tiếng Dao cùng có chung một nguồn gốc, một tộc người cổ đại. Chỉ bắt đầu từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ IX, người Hmông và Dao mới tách thành hai cộng đồng tộc người riêng.
Bắt đầu từ thế kỷ thứ IX kéo dài đến thế kỷ thứ XVI, người Hmông thường phải di cư đi về phía Nam, Tây Nam và Đông Nam, để tránh sự áp bức bóc lột của các thế lực phong kiến, quý tộc ở các thế kỷ đó. Nơi quy tụ tập trung đông nhất của người Hmông là ở Quỳ Châu (Trung Quốc). Cũng bắt đầu từ thế kỷ XVII đến đầu thế kỷ XX, đất nước Trung Quốc dưới triều Mãn Thanh vẫn duy trì thực hiện chế dộ thổ ty có từ đời nhà Minh, theo chế định cha truyền con nối (nhưng về sau được thay thế bằng chế độ bổ nhiệm), có thể bổ nhiệm người Mãn và người Hán làm thổ ty, nguyên nhân đó đã làm tăng thêm mâu thuẫn giữa người Hmông với bọn thống trị, cùng với các dân tộc thiểu số anh em khác, càng thêm mâu thuẫn với triều đình nhà Mãn Thanh một cách sâu sắc.
Trong các phong trào nổi dậy của người Hmông đấu tranh với bọn phong kiến, phải kể đến cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc. Trong cuộc khởi nghĩa này có nhiều người Hmông tham gia. Đến thời Quốc dân đảng, người Hmông cũng không tránh khởi sự áp bức bóc lột nặng nề. Chính các nguyên nhân đó đã khiến cho người Hmông từ Tây Nam Trung Quốc đến di cư ở nước ta vào các thời điểm khác nhau. Họ chọn điểm dừng chân đầu tiên ở hai huyện Mèo Vạc và Đồng Văn (tỉnh Hà Giang) - nơi đặt nền móng cư trú cho những nhóm người di cư tiếp theo.
Với tinh thần lao động cần cù và đầu óc sáng tạo, ngươi Hmông đã biến nhiều vùng cao miền Bắc nước ta thành nơi dân cư đông đúc, phát huy nội lực chứa đựng những tiềm năng kinh tế dồi dào. Trên quê hương Mèo Vạc yêu dấu của mình, thể hiện trong một bài hát dân ca theo điệu khèn "Khổng mí nhủa", người Hmông đã khẳng định:
"Cá ở dưới nước
Chim bay ở trên Trời
Chúng ta sống ở vùng cao
Con chim cũng có tổ
Nguời Hmông ta cũng có quê
quê ta là Mèo Vạc''....
Truyền thuyết Hmông kể rằng: Từ xa xưa có vị thần cao nhất, đã có hai người là Gấu chúa (nữ), Gấu nang (nam) xuống trần tạo ra con người và muôn loài muông thú, cây cỏ, ngày nay còn để lại nhiều vết tích trên miền Tây Bắc nước ta.
Nguồn sống chính của người Hmông chủ yếu vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp trên nương rẫy, cũng có một số ruộng nước nhưng rất ít. Trong canh tác có phân ra làm hai loại, nương định canh (thổ canh) và nương du canh, trong đó nương du canh chiếm một tỷ lệ cao. Trên ruộng bậc thang sau vụ lúc còn trồng hoa màu, ngô, khoai, sắn, lúa mạch, lạc, đậu, vừng, rau xanh, bầu bí, các loại cây ăn quả, cây thuốc chữa bệnh, nhiều nhất vẫn là cây lanh để lấy sợi dệt may quần áo.
Người Hmông vốn có nhiều kinh nghiệm canh tác trong nông nghiệp và gieo trồng ruộng nương, rẫy, từ khâu cày ải qua đông, xen canh gối vụ, chọn giống, đến nhặt cỏ bón phân.v.v... Nhưng khi đến vụ thu hoạch sản lượng trên các ruộng đất trống không giống nhau, vì trồng trên các thửa ruộng du canh thường không ổn định.
Đi đôi với việc trồng trọt là phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, trâu, bò, ngựa, dê, lợn, gà vịt, ngan ngỗng, ngoài ra còn vào rừng thu hái lượm lâm thổ sản và bắn thú rừng, ở nhiều nơi trước đây đã đóng góp đáng kể trong việc cải thiện kinh tế gia đình, nghề phụ trong gia đình dệt thổ cẩm, đan lát, làm yên ngựa, làm đồ bằng gỗ, dệt vải, xeo giấy bản, làm đồ trang sức bằng bạc, rèn đúc nông cụ, súng kíp v.v..Họ chỉ làm vào lúc nông nhàn rỗi rãi, chứ không chuyên nghiệp, nhưng sản phẩm làm ra của họ đã tới một trình độ kỹ thuật tương đối khá, có chất lượng được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng.
Người Hmông ăn hai bữa một ngày, chỉ có vụ mùa thu hoạch mới ăn ba bữa, thức ăn chính là cơm gạo tẻ, cũng có khi gạo nếp, bột ngô đồ (mau của), thực phẩm có rau, đậu xào mỡ và canh cơm, xúc ăn bằng thìa gỗ. Vào những dịp Tết hoặc khi nhà có khách, có thêm thịt lợn, thịt gà và nhiều loại bánh. Trong một năm người Hông ăn hai Tết lớn, Tết 5-5 và Tết năm mới vào đầu tháng 12 dương lịch.
Trang phục truyền thống của người Hmông khá độc đáo với nhiều hình vẽ, gồm váy, áo cánh, áo xẻ ngực có yếm lửng, thắt lưng, khăn quấn đầu, xà cạp, váy. Váy là hình nón cụt, xếp nếp khi mặc xoè rộng, nhưng cũng có váy ống, khi mặc xếp ở hai bên hông: áo váy được trang trí theo nhiều cách khác nhau tuỳ theo tập quán của mỗi nhóm Hmông. Phụ nữ và nam giới người Hông ở Sa Pa còn mặc áo khoác ngoài không có tay, cổ áo đứng, trang trí hoa văn.
Nhà ở của người Hmông tương đối có sự thống nhất về kiến trúc. Nhà ở gồm ba gian hai trái, gian giữa đặt bàn thờ hai bên là bếp và buồng ngủ, mỗi nhà mở từ hai đến ba cửa ra vào. Hàng ngày đối với phụ nữ chỉ được đi lại qua cửa phụ
Nhà ở còn là nơi để lương thực, ngô xếp bếp, nhưng cũng có nơi làm kho riêng cạnh nhà, các chuồng nuôi gia súc, gia cầm làm cách nơi nhà ở khoảng năm đến mười mét.
Làng của Hông (Giao) thường có từ năm bảy nhà đến vài chục nhà, ở một địa điểm hoặc nhiều địa điểm, gồm những người trong họ hoặc những người khác họ, có chung một thổ thần. Làng đặt ra những quy ước về chăn nuôi, giữ vệ sinh, bảo vệ rừng, giúp đỡ nhau, có người đứng đầu làng, được cắt cử luân phiên, cũng có một số nơi người đứng đầu giao là người đứng đầu dòng họ khá chặt chẽ, đó là "những người cùng tổ tiên'' có nghĩa vụ giúp đỡ nhau về mọi mặt. Khi có người chết chỉ có những người cùng họ mới khiêng quan tài.
Mỗi dòng họ lại có cách cúng tổ tiên, làm ma, chôn cất riêng. Các lễ cúng Xtaminh (ma cửa), đa trung (mụ), bùa đáng (ma lớn), nhìu đăng (ma bò), được người Hông coi trọng, có sự khác nhau giữa các họ, nó thể hiện ở nội dung bài cúng, về số lượng bài cúng và cách bày, cả về cách sắp xếp chỗ cúng và nơi ăn uống.
Người trưởng họ có trách nhiệm lo liệu việc chung của cả họ, cũng như các việc quan trọng của mỗi gia đình. Gia đình người trưởng họ là gia đình nhỏ, mang nặng tính chất phụ quyền. Con trai được quý trọng hơn con gái. Khi hôn nhân, sau lễ cưới, cô dâu ở hẳn nhà bên chồng, theo tập tục cổ truyền khi xưa, hôn nhân phụ thuộc vào số lượng bạc trắng, thịt rượu, trâu bò gà lợn, dê ngựa v.v... Con cô con cậu, con dì con già có thể lấy nhau, khi anh chết em trai có thể lấy chị dâu, theo tập quán cũ người Hmông có tục ''cướp vợ''. Ngày nay tục này không còn phổ biến, nhưng ở một số địa phương còn có tục ''kéo vợ, nghĩa là một người con trai chủ động kéo con gái đã đồng ý về nhà mình trước khi cưới: Mặc dầu có những tập tục ở bên ngoài là như vậy, nhưng chủ yếu bên trong vẫn phải thực hiện việc ăn hỏi, cưới xin là chính. Đặc điểm trong xã hội của người Hmông về quan hệ trong gia đình và hôn nhân, vai trò của người cậu, người cô có tính quyết định quan trọng.
Văn học nghệ thuật dân gian của người Hông cũng rất phong phú đa dạng, phản ánh sinh hoạt tinh thần, lao động sáng tạo, những nhận biết về lịch sử và hiện tượng tự nhiên, xã hội, con người vẫn được lưu truyền đến ngày nay. Bằng nhiều câu chuyện kể dân gian hấp đẫn, nhiều câu đố vui khá phổ biến ở nhiều vùng, nội dung miêu tả những sự việc khá cụ thể rõ ràng, trong văn học dân gian thì dân ca chiếm vị trí đáng kể, được phân ra nhiều loại dùng để cúng ma, tình yêu, cưới xin, làm dâu, mồ côi...nội dung tư tưởng tốt, nhẹ nhàng và sâu lắng.
Đặc điểm chung của hát dân ca không chỉ thể hiện tình cảm bằng lời, mà còn có thể giãi bày cùng nhau qua tiếng khèn, kèn lá, đàn môi, người nghe cũng hiểu được tâm trạng của người thổi. Nhất là những đêm vào mùa trăng sáng, những chàng trai thường hay thổi khèn để tâm sự tìm bạn tình. Vào những dịp lễ hội đầu xuân có tiếng khèn bè thổi cất lên, nghe vang vọng cả một thung lũng, riêng khèn còn được dùng trong đám tang để dưa tiễn người thân.
Các hoa văn trang trí của người Hmông thường thấy có các họa tiết trên váy áo của phụ nữ là hình con ốc, hình chân lợn, chân chó, con bướm con rắn, răng bừa, cái khèn, đoá hoa, đồng tiền, chữ thập... là chủ yếu.
Người Hmông có truyền thống đấu tranh chống kẻ thù xâm lược rất ngoan cường, tiêu biểu là cuộc đấu tranh vũ trang chống Pháp xâm nhập Bắc Hà do hai anh em Dương Chính Hồng (Giằng Chẩn Hùng) và Dương Chính Vinh (Giằng Chẩn Dùng) lãnh đạo năm 1886-1897; cuộc đấu tranh chống Pháp của người Hmông và người Dao do Đào Chính Lục (Thảo Chểnh Lù và Đặng Phúc Thành) đứng đầu ở Mù Càng Chải, Than Uyên, Văn Chấn, tỉnh Yên Bái năm 1889-1891; cuộc đấu tranh chống phu, chống thuế của người Hmông ở cao nguyên Đồng Văn tỉnh Hà Giang, do Sủng Mí Chiêng lãnh đạo năm 1911- 1912; cuộc đấu tranh của người Hmông ở Tủa Chùa, tỉnh Lai Châu chống chính quyền thực dân phong kiến năm 1914; cuộc đấu tranh quyết liệt của người Hmông thuộc hai tỉnh Lai Châu và Sơn La do Phả Chay lãnh dạo năm 1918- 1932.
Đặc biệt hơn là các cuộc đấu tranh có vũ trang với ý chí giữ nước, chống kẻ thù với tinh thần dân tộc, chống đi phu; không nộp thuế, tự do chuyên chở 1911 - 1912; cuộc đấu tranh ''quét sạch Tây Trắng'', chống thuế dành quyền tự quản năm 1918-1922; cuộc đấu tranh mang tên ''quyết tâm tiêu diệt đồn Bắc Hà" năm 1886-1897. Các cuộc đấu tranh vũ trang chống Pháp đã nhanh chóng tập hợp được quần chúng tham gia tới hàng nghìn người, gây cho quân Pháp và bộ máy chính quyền cai trị bị thiệt hại nặng nề, nhiều phen thất điên bát đảo bạt vía kinh hồn.
Bọn thực dân Pháp phải huy động một lực lượng quân đội đông đến hàng nghìn tên đến đàn áp người Hmông, người Hmông vẫn quyết không sợ, vẫn kiên cường chiến đấu phục kích đánh trả quân Pháp xâm lược, chấp nhận sự hy sinh, thực hiện chiến lược vườn không nhà trống, không hợp tác với quân Pháp.
Người Hmông sớm có cơ sở cách mạng, ngay từ tháng 4 năm 1943 đã thành lập một đội vũ trang gồm 30 người ở nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, nhất là các phong trào đấu tranh nổi dậy, chống ách đô hộ của thực dân Pháp. Từ khi có Đảng ra đời, trực tiếp lãnh đạo các phong trào đấu tranh yêu nước, chống thuế ở Cao Bằng năm 1936-1938, tham gia đấu tranh cách mạng ở tỉnh Hà Giang năm 1942-1945. Sau hai cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc và phong trào đấu tranh giữ gìn an ninh chính trị, bảo vệ vùng biên giới phía bắc, người Hmông đã đóng góp sức người, sức của cho tiền tuyến, có hàng nghìn thanh niên tòng quân giết giặc, có nhiều người được tuyên dương là anh hùng lực lượng vũ trang và chiến sỹ thi đua toàn quốc.
Đất nước Việt Nam là Tố quốc, là quê hương xứ sở của người Hmông. Người Hmông chỉ có một lòng đi theo Đảng, theo Bác Hồ và tin yêu ở cách mạng, đã cho người Hmông chữ viết và cơm ăn, áo mặc. Ngày nay, xã hội người Hmông đã biến đổi to lớn, đạt được nhiều thành tựu về kinh tế, văn hoá, giáo dục, y tế, sức khỏe cho cộng đồng. Dù cho thế lực phản động ở trong nước và ở nước ngoài có tuyên quyền, xuyên tạc truyền tà đạo cái pháp trong các bản, làng an cư người Hmông, thì chúng nhất định thất bại, bị vạch mặt, chỉ tên những người làm tay sai cho nước ngoài phản bội dân tộc, phản bội Tổ quốc. Gần 75 năm qua, Đảng và Bác Hồ đã dưa người Hương - một dân tộc thoát ra khỏi quá khứ đau khổ, giờ đây đã có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, có địa vị xã hội bình đẳng với các dân tộc anh em, họ càng hăng hái xây dựng quê hương, quyết tâm bảo vệ vùng biên giới phía bắc của Tổ quốc.
Các ý kiến mới nhất