DÂN TỘC LA CHÍ
Người La Chí sinh sống ở nước ta tại các xã Bản Phùng, Bản Díu, Bản Pắng và Bản Mấy thuộc huyện Xin Mần. Ngoài ra họ còn cư trú ở hai huyện Hoàng Su Phì, Bắc Quang tỉnh Hà Giang và một bộ phận khác ở các huyện Mường, Bắc Hà thuộc tỉnh Là Cai.
Người La Chí có nhiều tên gọi khác nhau như: Thổ Đen, Mán La Chí, Xá, nhưng tên La Chí là tên gọi một tộc danh được phổ biến hơn cả. Cù Tê là tên tự gọi, theo cách giải thích của người La Chí, Cù là người, Tê là dân tộc. Ở mỗi địa phương lại có tên tự gọi riêng. Các dân tộc xung quanh đều coi người La Chí là cư dân bản địa, họ có nhiều truyền thuyết gắn liền với tên bản làng của quê hương với dân số khoảng 7.964 người, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Ka Đai (ngữ hệ Thái - Ka Đai cùng nhóm với tiếng La Ha, Cơ Lao, Pu Pho).
Người La Chí sống ở miền núi phía Bắc nước ta từ lâu, trừ bộ phận (họ Lùng) vốn gốc là người Nùng mới di cư từ Na Cô, Vân Nam (Trung Quốc) đến, cách ngày nay khoảng 100 đến 120 năm, còn một bộ phận khác (họ Vương) vốn gốc là người Hoa, đa số người La Chí được coi là cư dân bản địa. Theo truyền thuyết của người La Chí kể rằng: Họ là con cháu của Hoàng Dân Thùng tức Hoàng Văn Đồng là một thổ tù (tù trưởng) ở xã Tụ Long tỉnh Tuyên Quang xưa kia. Vào cuối thế kỷ XVIII (1779), Hoàng Văn Đồng đã cùng nghĩa binh nổi dậy chống lại ách áp bức, bóc lột của bọn phong kiến quan lại ở địa phương.
Hiện nay người La Chí cùng một số dân tộc anh em khác như Cờ Lao, Hmông, Hoa sinh sống ở xã Tà Chải huyện Hoàng Su phì đều dựng miếu thờ Hoàng Văn Đồng, để ghi nhớ công ơn ông đã vì nghĩa lớn.
Người La Chí từ lâu đã làm ruộng nước, có nhiều kinh nghiệm trong việc làm ruộng bậc thang. Nhiều đồi núi ở vùng bản Phùng đã biến thành những cánh đồng màu mỡ. Theo kiểu canh tác truyền thống trước kia thường chỉ cấy một vụ, áp dụng kinh nghiệm cày bừa kỹ và bón phân, có hai phương thức một là bón lót, hai là vãi phân đều khắp mặt ruộng trong lúc cày bừa hoặc chấm gốc mạ vào cỏ phát bờ. Khi đến mùa thu hoạch, lúa nếp được gặt bằng hái “nhắt” bó lại từng đon “cụm''. Riêng lúa tẻ thì dùng liềm cắt cho vào máng gỗ để đập lấy thóc.
Do ruộng ít, nương giữ một vai trò quan trọng trong đời sống của người La Chí. Trên nương trồng lúa, ngô, khoai, sắn, dong riềng, bầu, bí, mướp, đậu, các loại rau và nhiều loại hoa màu khác Đất canh tác của người La Chí được phân ra làm ba loại nương, nương dùng gậy chọc lỗ, nương dùng cuốc để xới đất và nương dùng cày. Người La Chí còn làm loại nương để trồng chàm và nương trồng bông, tự cung cấp một phần về vải mặc may quần áo.
Người La Chí vốn từ lâu đã sống định cư, có nhiều bản đã được hình thành cách ngày nay khoảng trên dưới 100 năm. Bản người La Chí thường nằm rải trên các sườn núi đất cao, ít ở thung lũng hay ven sông suối. Trừ một vài bản nhà ở tập trung trù phú, còn đại bộ phận các bản ở rải rác từ năm đến mười nhà.
Nhà của người La Chí được cấu trúc nhà rửa sàn nửa đất, phần nền đất là nơi đặt bếp đun, phần sàn làm nơi ở, là nơi hoạt chủ yếu của gia đình, ba mặt của phần nhà nền đất, tường dày cao sát mái.
Trang phục của người La Chí giản dị không cầu kỳ. Nam giới mặc áo dài, màu chàm, cài khuy bên nách trái, đầu để tóc dài, đội khăn xếp; phụ nữ đa số mặc quần, một số ít mặc váy giống người Tày, mặc áo dài hở ngực không có khuy, nhưng lại có chiếc thắt lưng bằng vải, yếm và cổ áo được thêu bằng chỉ nhiều màu rất đẹp.
Thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám, xã hội người La Chí đã phân hoá giai cấp, kẻ giầu người nghèo một cách rõ rệt. Ruộng đất là tài sản tư hữu, họ được sử dụng những tài sản này vào việc mua bán hay cầm cố, thế chấp, gán nợ. Nhiều gia đình vì hoàn cảnh khó khăn nghèo túng phải vay nợ lãi, bán ruộng đất để trả nợ không còn ruộng để cày cấy, lâm vào cảnh bần hàn cơ cực.
Từ ngày có Đảng, có Bác Hồ mới đem lại cuộc sống ấm no hạnh phúc cho người La Chí. Thực hiện khẩu hiệu “người cày có ruộng'', tiến hành chính sách cải cách dân chủ ở miền núi, thực hiện phong trào hợp tác hoá, người nông dân và các tầng lớp lao động mới thực sự làm chủ ruộng đất của mình.
Người La Chí có các họ như: Ly, Tận, Vương, Lùng nhưng, giữa các mối quan hệ về dòng họ không chặt chẽ. Nếu có mối quan hệ về dòng họ, thì thể hiện chủ yếu trong hoạt động tôn giáo, nhất là trong dịp cúng lễ vào tháng bảy và tháng mười một hàng năm. Gia đình người La Chí là gia đình phụ quyền, thông thường gồm ba thế hệ, ông bà, cha mẹ, các con, ít thấy những gia đình chỉ có hai thế hệ. Trung bình mỗi gia đình có từ 7 đến 8 người, gia đình đông thì từ 10 đến 12 người, cá biệt cũng có gia đình đông hơn.
Thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng bền vững, trai gái đến tuổi trưởng thành được tự do lựa chọn người mình yêu ít có hiện tượng ly hôn hoặc một người lấy hai, ba vợ, cũng ít xảy ra hiện tượng ngoại tình. Hôn nhân ở dưới chế độ phong kiến, mang nặng tính chất mua bán, quan hệ những người cùng họ, cùng một ông tổ bốn đời mới được kết hôn, con cô con cậu thì được phép lấy nhau nhưng có hạn chế (nhưng muốn lấy nhau ở trường hợp này phải xin phép họ), con trai của anh không được lấy con gái của chị hoặc của em gái, còn con già có thể lấy được nhau. Phong tục còn cho phép sau khi em chết , người anh có thể lấy em dâu, nhưng lại nghiêm cấm trường hợp vợ chết, người chồng lấy chị hoặc em gái vợ, nó là một trong những đặc điểm của người La Chí, là việc duy trì chặt chẽ nguyên tắc hôn nhân và gia đình trong đồng tộc.
Người La Chí, thờ cúng tổ tiên ba đời, được lễ vào những ngày lễ, ngày Tết. Nét đặc biệt trong mỗi gia đình người La Chí là có nhiều bàn thờ, xếp dọc theo hàng vách phía trước theo thứ tự: Bàn thờ của bố, của con út và con thứ, trong cùng mới là bàn thờ của con cả, chỉ có khác là bàn thờ của các con, bao giờ cũng thấp hơn bàn thờ của bố.
Một bàn thờ tổ tiên hoàn chỉnh phải qua ba cấp cúng, sau người bố đã thực hiện đủ trình tự, thủ tục ba cấp cúng, thì lúc đó người con trai cả mới được đựng bàn thờ, đợi khi anh cả làm xong, thì các em mới theo thứ tự mà dựng bàn thờ, phong tục này chỉ dành cho những người đàn ông có vợ, mới phải dựng bàn thờ theo kiểu nói ở trên.
Trong mỗi làng của người La Chí, đều lập ra một tổ chức lễ điều hành rất chặt chẽ về công việc tôn giáo tín ngưỡng chung thí dụ như: Ở bản Phùng, tổ chức này gồm có tám người "pô mía như” do dân làng chọn ra bằng cách bói trê xương chân gà hàng năm.
Người La Chí có vốn văn học dân gian phong phú, có thần thoại truyền thuyết và nhiều truyện cổ tích nói về nguồn gốc đất đã sinh vạn vật và muôn loài, trong đó có người La chí cùng nhiều dân tộc khác. Các truyện tiêu biểu là truyện Pủ Lô Tô đề cập đến nguồn gốc cộng đồng của người La Chí, tryện kể về cụ tổ Hoàng Dìn Thùng, nhiều truyện phản ảnh các hiện tượng tự nhiên như truyện: Vì sao có mặt trời mặt trăng, truyện nguồn gốc cây lúa và phong tục tập quán, quan hệ xã hội v.v...
vào dịp các ngày lễ ngày Tết trai gái thường mặc đẹp tụ tập để hát đối đáp với nhau ở một bãi rộng, nhất là ngày Tết Nguyên Đán họ chơi nì khum (ném còn), ni cô (đánh quay), nì kè kè (đánh đu thăng bằng), Tết tháng tám (cơm mới), họ chợt đu dây (pỉ cúng vầy), các em nhỏ thì thích chơi ống phốc. Trong những ngày vui này, trai gái hát ni ca, gióng hát lượn bằng tiếng Tày, chơi đàn lính ba dây, thổi khèn lá của các chàng trai cất lên réo rắt hẹn hò với bạn gái, có địa phương còn dùng cả trống chiêng cho thêm phần náo nhiệt.
Người La Chí vốn cần cù lao động và giầu óc sáng tạo ra những cánh đồng định cư màu mỡ và bản làng trù phú. Người La Chí rất biết ơn Đảng, biết ơn Bác Hồ, giờ đây đã cho họ cuộc sống ấm no hạnh phúc, làm thay đổi căn bản xã hội người La Chí, họ càng thêm yêu quê hương, ra sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Các ý kiến mới nhất