DÂN TỘC PU PÉO
Người Pu Péo là một trong các cư dân ít người nhất ở nước ta, họ cư trú tập trung ở ven biên giới Việt - Trung tại các xã phố Là, Sùng Chéng, thuộc huyện Đồng Văn, họ còn ở rải rác trong một số xã thuộc hai huyện Yên Minh, Mèo Vạc tỉnh Hà Giang. Họ tự gọi là Ka Beo, tên Pu Péo do người Tày, Nùng gọi, nay đã trở thành tộc danh.
Ngoài ra, người Pu Péo còn có các tên gọi khác như La Quả, Pen Ty, Lô Lô, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Đai). Người Pu Péo nói rất thạo tiếng Hmông và tiếng Quan Hoả với dân số khỏang 398 người. Họ là cư dân có mặt rất sớm ở vùng Hà Giang, vào đầu của thế kỷ thứ XVIII và tiếp theo là bộ phận đến cư trú muộn hơn vào thế kỷ thứ XIX và đầu thế kỷ thứ XX.
Đời sống chính của người Pu Péo là làm ruộng bậc thang, làm nương rẫy. Họ có kinh nghiệm làm ruộng nương rẫy, với trình độ canh tác có trình độ kỹ thuật khá cao, cày ruộng làm đất để cấy thâm canh lúa, lại còn trồng xen canh ngô, lúa mạch, đậu, khoai, sắn, v.v... Mười năm trở lại đây, vùng đất canh tác của người Pu Péo xuất hiện ngày càng nhiều loại cây trồng mới như xu hào, bắp cải, cà rốt, rau lơ và nhiều loại cây thuốc ( xuyên khung, tam thất). Nhà nào cũng có mảnh vườn xung quanh để trồng các loại cây ăn quả như đào, lê, mận và nhiều cây khác, góp phần tăng trưởng cho kinh tế gia đình.
Người Pu Péo thạo nghề, họ tự làm nhà và những đồ dùng trong gia đình từ những năm 1963 (thế kỷ XX), họ đã biết sản xuất ngói máng, gạch. Những sản phẩm của họ đã đáp ứng một phần nguyên liệu làm nhà ở của bà con trong xã, thị trấn, phó bảng và các xã lân cận.
Người Pu Péo từ lâu đã sống định cư, nhưng họ lại ở rải rác thành từng xóm, chỉ có 4 đến 5 gia đình phân tán trong 8 xã thuộc huyện Đồng Văn. Nhà ở truyền thống của người Pu Péo là nhà sàn, nhưng gần đây, do rừng bị tàn phá, việc kiếm tre nứa, gỗ để làm nhà trở nên khó khăn, nên người Pu Péo đã làm nhà đất như người Hoa, người Hmông và các dân tộc khác ở trong vùng làm nhà theo kiểu hai mái, không có chái, tường trình đất hoặc bưng bằng ván.
Trang phục của người Pu Péo: Phụ nữ mặc hai áo, áo ngoài chẻ ngực không có khuy để cài, chiếc áo trong cài khuy bên nách phải, trông giống áo của người phụ nữ Giấy, phụ nữ người Cờ Lao. Phụ nữ Pu Péo thường mặc áo dài đen, bên ngoài có yếm, trang trí trên y phục chủ yếu bằng cách gép các miếng vải màu lại với nhau, tóc vấn trước được gài bằng chiếc lược gỗ bên ngoài phủ tấm khăn vuông, có trang trí hoa văn nhiều sắc màu sặc sỡ. Trang phục của dàn ông thì đơn giản với bộ quần áo nhuộm màu chàm, cũng giống như các dân tộc khác ở miền núi.
Xã hội người Pu Péo trước kia đã phân hoá giai cấp, người giàu thường là những người làm các chức dịch, họ lợi dụng những chức vị này để bóc lột nhân dân, thời đó có một số người Pu Péo đã làm tới Lý Trưởng (Tổng Giáp) Phó Lý của xã (Phố Cao), hay binh thầu, mã phài trông coi từng chòm xóm.
Hiện nay người Pu Péo còn tồn tại song song với hai loại dòng họ. Trong hệ thống sổ sách, giấy tờ chính thức về hành chính, người Pu Péo thường dùng các họ gọi theo tên bằng chữ Hán, song lại đọc theo cách phiên âm của địa phương như Củng, Tráng, Phủ, Pề, Vàng, Phào, Chung, Lùng, Chỗ, Giàng, Lù, Làng. Nhưng trong mối quan hệ cộng đồng làng xã vẫn thấy dấu tích những tên gọi cổ xưa (Phăn) của dân tộc Pu Péo, đó là mối liên lạc giữa các thành viên của một dòng họ. Người pu péo ở huyện Đồng Văn có đến 22 tên gọi như Ka Cung, Ka Cặm, Ka Rùm, Ka Châm, Ka Sô, v.v... Như vậy, xưa kia các tên thể hiện bằng ngôn ngữ dân tộc Pu Péo, tên của dòng họ đã có từ trước, các họ mang tên Hán, về sau do những biến động của lịch sử mà người Pu Péo cư trú gần người Hán hoặc đã bị ảnh hưởng qua giao tiếp với các tộc người láng giềng xung quanh, nên đã mang họ bằng tên chữ như người Hán. Một số từng cặp đôi dòng họ tương ứng với một tên họ nhất định, một số cặp đôi khác từng tồn tại dưới một dòng họ, việc hình thành tên chữ của dòng họ có nhiều cách, một số cặp đôi đó có chung một dòng họ thì chọn những tên chữ gần với dòng họ của mình, một số họ khác vay mượn trực tiếp những họ của các dân tộc láng giềng gần gũi.
Nét đặc điểm nổi bật của dòng họ cổ xưa của người Pu Péo thể hiện ở tính chất cặp đôi bao giờ cũng có hai dòng họ đi kèm với nhau như: Ka Bu - Ka Bỏng; Ka Ru - Ka Rựa; Ka Cung; Ka Căm, v.v... điều đó cũng cho chúng ta thấy tàn dư của những thị tộc (lưỡng hợp) trong bào tộc xưa còn sót lại.
Gia đình của người Pu Péo là gia đình nhỏ phụ quyền. Có số gia đình khá giả trước kia tồn tại dưới hình thức kiểu gia đình lớn. Sau khi cưới, người phụ nữ cư trú bên nhà chồng, song có tục ở rể, thực hiện chế độ hôn nhân một vợ một chồng đã có từ lâu, hiện tượng ly hôn lấy nhiều vợ hay ngoại tình rất ít, hôn nhân giữa những người trong cùng một họ nghiêm cấm triệt để.
phong tục cổ truyền của người Pu Péo cũng không cho phép ly hôn đối chéo giữa hai dòng họ, khác thế hệ cũng không được kết hôn với nhau, hôn nhân giữa con cô con cậu bị hạn chế, con trai của các chị em gái cho phép lấy được con gái của các anh em trai, nhưng con trai của các anh em trai, không lấy được con gái của chị em gái, con của các chị em gái lấy được nhau vì khác họ (tính theo họ người bố).
Phong tục của người Pu Péo cho phép khi người đàn ông khi vợ chết, có thể lấy được em gái hoặc chị nhưng phải được cả dôi bên ưng thuận.
Người Pu Péo có quan niệm mỗi con người ta có đến 8 hồn và 9 vía, hồn có ảnh hưởng đến sức khoẻ của con người, nên mỗi khi nhà có trẻ em dưới 13 tuổi đi chơi xa, đi vào buổi giữa trưa hay đêm tối đều phải đánh dấu chữ thập bằng nhọ nồi quệt lên trán để bảo vệ hồn, khi có người ốm thì gọi hồn vào chiều ngày 29 hoặc 30 Tết Nguyên Đán hàng năm, người Pu Péo có học gọi hồn cho từng người trong gia đình.
Người Pu Péo thờ cúng tổ tiên ba đời. Trên bàn thờ có bày những hũ sành nhỏ, mỗi hũ sành tượng trưng cho một đời. Mỗi khi người trong nhà bị ốm, bói thấy tổ tiên nào cần thì phải cúng riêng, lại đặt lên trên bàn thờ một hũ sành nữa, có gia đình bày trên bàn thờ đến 16 chiếc hũ sành.
Mỗi độ Tết đến xuân về người Pu Péo cũng chuẩn bị náo nức gói bánh chưng đen vào tối 29 Tết Nguyên Đán để kết thúc một năm cũ, đồng thời nhà nào cũng gói bánh chưng trắng vào tối 30 tết để mừng năm mới cầu vận may, cúng tổ tiên. Người Pu Péo có tục kiêng kỵ trong ba ngày Tết không được rửa bát đũa, chỉ dùng giấy bản để lau qua ngày mùng ba Tết đến ngày 13 tháng giêng (âm lịch) mới làm lễ Pan ong (ép nước) cho cả xóm hay cả bản (tương tự như lễ động thổ của người Việt), với nội dung mở đầu cho vụ mùa, bắt tay vào sản xuất của một năm tới, cầu mong cho dân bản yên vui, nhà nhà được hạnh phúc, ngô lúa xanh tươi.
Cách tính thời gian của người Pu Péo là tính giờ và năm theo lịch 12 con vật, mỗi chu kỳ là một "khuập'' như khuập ván (12 ngày), khuập mai (12 năm), cách tính này thì tháng khớp với tháng âm lịch.
Người Pu Péo là một trong số ít dân tộc ở nước ta hiện nay còn sử dụng trống đồng, xưa kia thì trống đồng được sử dụng phổ biến, ngày nay chỉ được dùng trong ngày lễ làm chay .
Người Pu Péo có hai loại trống đồng, một loại có tên gọi là lung quan trống to, nhưng loại trống này tiếng đánh không có độ ngân dài vang xa, còn một loại nữa có tên là lung mhay trống nhỏ, tiếng trống đanh, vang dội hơn.
Người Pu Péo dùng trống bao giờ cũng có đôi gồm có trống "đực” và trống ''cái”. Khi sử dụng trống xong họ cất trên sàn gác, rất kiêng kỵ khi không có việc mà xê dịch, đưa ra khỏi vị trí nơi cất trống, vì thế họ có quan niệm hồn của ngô, của lúa cất sợ tiếng trống vì nên họ làm chay sau khi mùa màng đã thu hoạch trước khi đưa ra sử dụng phải làm lễ cúng từng chiếc trống. Trống được treo ở cạnh cửa ra vào, trống ''đực” ở bên trái, trống "cái'' ở bên phải, hai mặt trống quay vào nhau, người đánh trống đứng ở giữa, dùng củ chuối gõ vào mặt trống theo sự điều khiển (ra điệu bộ bắt nhịp) của thầy cúng, theo tiếng trống đồng mọi người dự lễ đều vui mừng nhảy múa và hát, lễ hội này kéo dài suốt một ngày đêm.
Người Pu Péo là cộng đồng có dân số ít, vì phải trải qua một thời gian dài sống dưới chế độ thực dân phong kiến áp bức, bóc lột hầu như xã hội Pu Péo không phát triển có nguy cơ phải diệt vong vì đói nghèo, bệnh tật. Nhờ có Đảng, có cách mạng, có Bác Hồ mới hồi sinh cho dân tộc Pu Péo có cái ruộng, cái nương để cấy lúa, trồng ngô, đủ cơm ăn, áo mặc, cuộc sống ngày càng ấm no hạnh phúc, nền văn hoá và bản sắc dân tộc được gìn giữ, phát huy, được bình đẳng trong vị trí xã hội cũng như các dân tộc anh em khác trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam.
Người Pu Péo ngày nay càng tin yêu Đảng, biết ơn Bác Hồ đã chăm lo cuộc sống cho họ, người Pu Péo ra sức phát huy những khả năng nộl lực của mình cùng với cả nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Các ý kiến mới nhất